Nhiều nông dân nuôi tôm cho biết, thông thường tôm sú chỉ nuôi khoảng 4 tháng (đạt cỡ 30 - 40 con/kg), còn tôm thẻ chân trắng chỉ nuôi 2,5 - 3 tháng (đạt cỡ 60 - 100 con/kg) là thu hoạch. Tuy nhiên, nếu ao tôm bị chậm lớn thì thời gian nuôi có thể tăng thêm 1 tháng (nhưng cỡ tôm sú chỉ đạt 40 - 55 con/kg, còn tôm thẻ chỉ đạt 80 - 120 con/kg). Kết quả là thời gian nuôi dài hơn, rủi ro dịch bệnh cao hơn, hệ số thức ăn cao, cỡ tôm nhỏ bán không được giá, năng suất giảm từ 20 - 40%. Mặc dù chưa có con số thống kê chính thức nhưng với diện tích thả nuôi tôm cả nước hàng năm gần 700.000 ha thì rõ ràng thiệt hại do tình trạng tôm nuôi chậm lớn đã làm giảm sản lượng tôm, gây tổn thất lớn cho ngành tôm.
Để tránh hiện tượng tôm chậm lớn cần phải kiểm dịch con giống trước khi mua về thả nuôi, bởi nếu không kiểm soát tốt thì con giống thả nuôi có thể đã nhiễm bệnh còi do MBV (Monodon Baculovirus), HPV (Hepatopancreatic parvovirus), bệnh vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei (AHP) hoặc hội chứng chậm lớn trên tôm sú LSNV (Laem singh virus). Đối với bệnh do MBV và HPV đã được nói đến nhiều và đã có các biện pháp kiểm soát, riêng bệnh do AHP và LSNV là bệnh tương đối mới ở Việt Nam cũng như trên thế giới.
Bệnh vi bào tử trùng EHP được phát hiện ở Thái Lan vào năm 2006 nhưng tác hại của vi bào tử trùng trên tôm chưa được quan tâm nhiều. Hiện tại có nhiều nước nuôi tôm lớn trên thế giới như Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Mexico và có thể cả Ấn Độ, Indonesia cũng có thể đã có mầm bệnh EHP. Triệu chứng của bệnh EHP trên tôm thẻ chân trắng không rõ ràng. Khi tôm giống bị nhiễm EHP thả nuôi trong tháng đầu tiên tôm thường vẫn phát triển tương đối bình thường nhưng sau khi tôm đạt trọng lượng khoảng 3 - 4 g/con, cũng như lượng sinh khối tôm trong ao tăng dần thì tôm cũng chậm lớn dần rồi có thể dừng lớn hẳn. Tôm nuôi 90 - 100 ngày tuổi vẫn có thể chỉ đạt kích cỡ 4 - 5 g/con (200 - 250 con/kg).
Còn bệnh LSNV cũng đã xuất hiện và được ghi nhận tại các nước Ấn Độ, Thái Lan từ những năm 2001 - 2002. Bệnh có khả năng lây lan nhanh, rộng và gây hiện tượng tôm chậm lớn trong suốt quá trình nuôi. Theo các nhà nghiên cứu, tôm sú bị chậm lớn do LSNV nếu không phân biệt kỹ có thể nhầm lẫn với tôm bị nhiễm còi do nhiễm HPV và MBV. Tuy nhiên, tôm bị nhiễm LSNV có màu sắc sậm bất thường, tăng trưởng bình quân chỉ dưới 0,1 g/ngày, khớp bụng có dạng đốt tre, râu dễ gãy.
Trong quá trình nuôi, tôm bị các bệnh do vi khuẩn vibrio, vi khuẩn dạng sợi, bệnh đóng rong, bệnh phân trắng... cũng làm tôm nuôi bị chết rải rác hay chậm lớn. Nguyên nhân dẫn đến các bệnh này chủ yếu là do mầm bệnh theo nguồn nước, tôm giống, thức ăn, từ đáy ao nếu công tác tẩy dọn chưa tốt. Bệnh thường gặp ở ao thả nuôi mật độ dày, hàm lượng chất hữu cơ cao, việc kiểm soát các yếu tố thủy lý hóa môi trường ao nuôi không tốt, khí độc nhiều. Để phòng ngừa các bệnh này, cần phải chuẩn bị ao nuôi đúng quy trình kỹ thuật ngay từ đầu, không thả nuôi mật độ quá cao, không sử dụng thức ăn bị mốc. Trong quá trình nuôi cần quản lý chặt chẽ các yếu tố môi trường, định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học làm sạch môi trường. Thay nước định kỳ và sử dụng hóa chất diệt khuẩn, nhất là trong những thời điểm nắng nóng hay mưa kéo dài. Tăng cường sức đề kháng cho tôm bằng quản lý môi trường tốt và bổ sung vitamin C, A, E và beta-glucan.
Ngoài ra, việc sử dụng thức ăn kém chất lượng, bảo quản không tốt hay thiếu thức ăn làm cho tôm không hấp thu đủ chất dinh dưỡng để tạo cơ thịt lấp đầy vỏ, hay môi trường nước ao xấu làm phát sinh các khí độc... cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tôm giảm ăn, bỏ ăn hoặc làm cho tôm nuôi bị ốp dẫn đến chậm lớn, sản lượng giảm. Để hạn chế tình trạng này cần phải chọn loại thức ăn tốt, bảo quản đúng kỹ thuật, tính toán lại lượng thức ăn cho phù hợp và bổ sung premix vào thức ăn.
(vasep.com.vn) Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo giá thủy sản sẽ tăng nhanh hơn mức trung bình lịch sử trong năm 2026, trong bối cảnh giá thực phẩm tiếp tục chịu áp lực.
(vasep.com.vn) Thị trường thủy sản Trung Đông được dự báo tiếp tục tăng trưởng ổn định, từ từ 22,13 tỷ USD năm 2025 lên 22,54 tỷ USD năm 2026 và dự kiến đạt 24,72 tỷ USD vào năm 2031, với tốc độ tăng trưởng kép hằng năm (CAGR) khoảng 1,86% trong giai đoạn 2026 - 2031. Động lực chính đến từ nhận thức ngày càng cao về sức khỏe và sự gia tăng cộng đồng người nước ngoài tại khu vực.
(vasep.com.vn) Công ty International Fish Feed Company (IFFC) vừa trở thành nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản đầu tiên tại Oman đạt chứng nhận Best Aquaculture Practices (BAP), theo thông báo từ Global Seafood Alliance (GSA).
(vasep.com.vn) Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông đang làm gia tăng rủi ro đối với chuỗi cung ứng thực phẩm toàn cầu, kéo theo biến động mạnh về chi phí logistics và năng lượng. Tuy nhiên, phân khúc chả cá – surimi vẫn duy trì tăng trưởng ổn định nhờ lợi thế về bảo quản, giá thành và tính tiện lợi.
(vasep.com.vn) Ba doanh nghiệp nuôi cá tuyết của Na Uy nhận định ngành này đang nổi lên như một nguồn cung quanh năm, chất lượng cao, có thể thay thế một phần cá tuyết khai thác tự nhiên và góp phần ổn định thị trường toàn cầu.
(vasep.com.vn) Australia đang nổi lên là một trong những thị trường ổn định và có tiềm năng tăng trưởng đối với tôm Việt Nam. Trong bối cảnh thương mại toàn cầu chịu nhiều tác động từ căng thẳng địa chính trị, đặc biệt là xung đột tại Trung Đông, việc củng cố và mở rộng các thị trường có mức độ ổn định cao như Australia càng trở nên quan trọng đối với ngành tôm Việt Nam.
(vasep.com.vn) Một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí khoa học quốc tế ICES Journal of Marine Science cho thấy trữ lượng cá hake châu Âu (Merluccius merluccius) đang giảm dài hạn và mất dần đa dạng di truyền tại nhiều khu vực ở Đại Tây Dương và Địa Trung Hải. Kết quả này khiến ngành khai thác thủy sản Tây Ban Nha bất ngờ, bởi sản lượng đánh bắt gần đây vẫn ở mức khả quan.
(vasep.com.vn) Sau ba năm tăng trưởng chậm, ngành tôm Ấn Độ được dự báo bước vào chu kỳ phục hồi trong năm 2026, với kim ngạch xuất khẩu có thể vượt 500 tỷ Rupee, tăng khoảng 13–15% so với năm trước. Động lực chính đến từ chiến lược mở rộng thị trường ngoài Mỹ, cùng lợi thế tỷ giá và nhu cầu tiêu thụ cải thiện tại nhiều khu vực.
(vasep.com.vn) Các vấn đề như khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) cùng vi phạm quyền lao động đang tiếp tục gây áp lực lớn lên chuỗi cung ứng thủy sản toàn cầu. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc chuyển các cảnh báo thành hành động cụ thể.
(vasep.com.vn) Báo cáo FAIRR Seafood Traceability Phase 2 cho thấy truy xuất nguồn gốc xuyên suốt và có khả năng kết nối đang trở thành nền tảng bắt buộc đối với ngành thủy sản. Trước áp lực ngày càng lớn từ nhà đầu tư, cơ quan quản lý và đối tác chuỗi cung ứng, doanh nghiệp buộc phải minh bạch và chứng minh nguồn gốc sản phẩm.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn