Giải pháp cho vấn đề nguồn nước vùng ĐBSCL

Tin khác 16:14 06/05/2024 Bảo Ngọc
Có lẽ chưa lúc nào vấn đề nguồn nước cho vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được quan tâm như gần một thập niên qua. Trong tám năm, kể từ 2016, mùa mưa lũ nông dân lo âu khi những kỳ nước nổi mênh mông kéo dài dường như chỉ còn trong ký ức; tới mùa khô, nhiều địa phương ven biển nháo nhào vét những dòng nước ngọt hiếm hoi còn sót; các đoạn sạt lở, sụt lún tiếp tục gia tăng, chưa biết chừng nào giảm bớt con số báo động.

Mùa lũ về trên vùng Đồng Tháp Mười. Ảnh: H.P

Trong hơn 300 năm, người Việt Nam định cư vùng châu thổ cuối dòng của con sông Mêkông lớn nhất Đông Nam Á – nơi trong quá khứ được mặc định là “thiên nhiên ưu đãi, mưa thuận gió hòa, làm chơi ăn thiệt, văn minh sông nước” – không thể ngờ tới một ngày đối mặt với nguy cơ trầm trọng về nước. ĐBSCL – nơi mỗi năm có thể nhận xấp xỉ 450 tỉ mét khối nước ngọt trước khi đổ ra biển, ngày nay, phải buộc lòng công bố tình huống khẩn cấp về thiên tai, xâm nhập mặn để cầu cứu sự giúp đỡ cấp nước từ những vùng đất khác, với trung ương và với cả những tổ chức quốc tế, ở một vài địa phương, tại một vài thời điểm.

Muốn tìm giải pháp cho vấn đề nguồn nước ĐBSCL, chúng ta cần định danh đúng nguyên nhân của nó, cả chính yếu và thứ yếu. Thực tế, nguồn nước có thể thay đổi theo không gian, thời gian và các đối tượng dùng nước, do đó, trật tự các nguyên nhân chính yếu hay thứ yếu có thể đảo nhau.

Bảy thách thức làm thay đổi nguồn nước và giải pháp

Vùng ĐBSCL hiện nay đang đối diện với bảy nguyên nhân, cũng là bảy thách thức làm nguồn nước thay đổi về số lượng, suy giảm về chất lượng và biến động dịch chuyển về sự phân bố theo thời gian. Trong đó, vùng gặp ba thách thức đáng kể do hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu, sự gia tăng phát triển các chuỗi đập thủy điện ở thượng nguồn và các dự án chuyển nước sông Mêkông qua các vùng đất khác gây nên những tác động nước xuyên biên giới.

Bốn thách thức khác do các vấn đề sử dụng nguồn nước không bền vững, bao gồm khai thác nguồn nước quá mức của tự nhiên; sử dụng nước không hiệu quả về kinh tế như tập trung quá nhiều nguồn nước để sản xuất lúa nhiều vụ, kể cả trồng lúa trong vùng đất mặn, trong khi giá trị của lúa gạo mang lại rất thấp; việc thay đổi sử dụng đất như chuyển các vùng chứa nước tự nhiên thành khu đô thị, khu công nghiệp, các sân golf, trong khi tình trạng phá rừng hoặc xâm phạm đất rừng phòng hộ lại phổ biến và cuối cùng là gây ô nhiễm nguồn nước do sử dụng nhiều phân bón hóa học, nông dược, xả thải sinh hoạt và công nghiệp ra thủy vực mà không có xử lý đầy đủ.

Câu hỏi đặt ra là giải pháp sống còn nào cho vấn đề an ninh nguồn nước trước mắt và lâu dài ở ĐBSCL? Tất nhiên cũng cần đến những chính sách kịp thời và những phương cách quản trị nguồn nước cấp vùng thật khoa học, hợp lý và chặt chẽ để không gây ra những hối tiếc về sau với những biến động dự báo là khó lường. Cần thay đổi tư duy sử dụng nước khôn ngoan theo hướng thuận thiên. Có thể liệt kê bảy giải pháp lớn, đó là:

(1) Kiểm kê nguồn nước (số lượng, chất lượng và động thái), đồng thời phải thường xuyên theo dõi, quan trắc và dự báo các biến động nguồn nước xuyên biên giới từ thượng nguồn về đến ĐBSCL. Việc kiểm kê nguồn nước vùng ĐBSCL là một phần của công việc kiểm kê nguồn nước quốc gia theo tinh thần của Nghị định 02/2023/NĐ-CP và khoản 1, điều 12 Luật Tài nguyên nước (2012). Có số liệu kiểm kê nguồn nước, chúng ta mới có kế hoạch sử dụng nguồn nước trên căn bản dữ liệu nguồn nước này cho các ngành, các địa phương.

Trữ nước trong mương vườn là giải pháp giữ nước cho sản xuất nông nghiệp.Ảnh: Lê Anh Tuấn

(2) Tăng cường bảo tồn, phục hồi và duy trì các vùng trữ nước: Đây là nguồn dự trữ và cân đối nguồn nước quan trọng như vùng Tứ giác Long Xuyên (có diện tích trên 480.000-500.000 héc ta), vùng Đồng Tháp Mười (khoảng 680.000 héc ta) và chừng bảy vùng đất ngập nước quan trọng rải rác trong vùng ĐBSCL hoặc một số hồ chứa nước nhân tạo ở An Giang, Kiên Giang. Vùng trữ này có thể dự trữ và lấy ra sử dụng cho những thời đoạn khan hiếm như lúc khô hạn, xâm nhập mặn, là nguồn cấp của các nhà máy thủy cục rời vào giai đoạn thiếu hụt nguồn nước hoặc nguồn nước có vấn đề về chất lượng khó xử lý.

(3) Mạnh dạn thu hẹp một phần diện tích trồng lúa ít hiệu quả: Có thể chỉ duy trì khoảng 1,2-1,3 triệu héc ta diện tích lúa vào mùa mưa và chừng 0,6-0,7 triệu héc ta vào mùa khô. Các diện tích trồng lúa này chỉ nên tập trung ở vùng Tứ giác Long Xuyên, vùng ven sông Tiền, sông Hậu và một phần vùng Đồng Tháp Mười.

Đây là những nơi gần như có nguồn nước ngọt quanh năm như trong báo cáo Quy hoạch Phát triển kinh tế – xã hội vùng ĐBSCL đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 đã được Chính phủ phê duyệt năm 2022. Phần diện tích này không làm chúng ta thiếu hụt nguồn cung gạo và diện tích khác sẽ được bù bằng những loại nông sản khác ít tốn nước hơn như bắp, khoai, đậu, rau trái, thủy sản… mà giá trị kinh tế cao hơn. Có thể ĐBSCL sẽ giảm một phần gạo xuất khẩu nhưng vẫn bảo đảm Việt Nam không rơi vào việc thiếu hụt an ninh lương thực.

Bảy thách thức làm nguồn nước thay đổi, trong đó, ba thách thức đáng kể do hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu, sự gia tăng phát triển các chuỗi đập thủy điện ở thượng nguồn và các dự án chuyển nước sông Mêkông qua các vùng đất khác; bốn thách thức khác do các vấn đề sử dụng nguồn nước không bền vững nội tại.

(4) Cắt bỏ các nguồn gây ô nhiễm, hoặc buộc các hoạt động công nghiệp gây ô nhiễm nguồn nước như nhà máy chế biến nông thủy sản, nhà máy nhiệt điện, phải có những cải tiến công nghệ xử lý và tái sử dụng nước. Cơ quan chức năng phải thường xuyên kiểm tra và phạt nặng các hành vi xả thải trái phép. Kiểm soát chặt và truyền thông cho người dân hạn chế sử dụng hóa chất trong sản xuất nông, thủy sản.

(5) Rà soát và điều chỉnh pháp chế nguồn nước, các văn bản pháp quy liên quan đến quản trị nguồn nước phải chặt chẽ hơn, sát với tình hình thực tại và cần tham khảo thêm các tiêu chuẩn dùng nước, tiêu chuẩn xử lý và xả thải ra thủy vực. Công việc này gắn kết với giải pháp (4). Việt Nam cần có những chính sách ưu đãi thuế và khen thưởng các đơn vị đầu tư khoa học và công nghệ tiết kiệm nước, giảm xả thải và có biện pháp tái sử dụng, quay vòng nguồn nước.

(6) Thu hút sự tham gia của người dân trong quản trị nguồn nước. Người dân được quyền giám sát chất lượng nguồn nước, có ý kiến về các kế hoạch sử dụng nguồn nước địa phương và đặc biệt họ phải được thông tin đầy đủ, minh bạch về hiện trạng và các vấn đề nguy cơ về nguồn nước cũng như các đe dọa thiên tai liên quan đến nước.

(7) Tăng cường hiện đại hóa các trạm quan trắc và tần suất theo dõi biến động nguồn nước, có thể kết nối các trạm đo với các thiết bị theo dõi và truyền thông tin tự động kịp thời đến những người ra quyết định, các ngành dùng nước và công chúng.

Hành động cho tương lai

Trong các kế hoạch hành động cấp vùng và cấp tỉnh, các quyết sách phải bao hàm cả biện pháp phi công trình và biện pháp công trình. Về ngắn hạn, giải pháp phi công trình tỏ ra hiệu quả, chi phí thấp, áp dụng dễ hơn và hiệu quả ở cấp cộng đồng. Các giải pháp phi công trình như điều chỉnh lịch thời vụ sát sao, áp dụng các phương pháp tưới tiết kiệm, chống thất thoát nước, các giải pháp chuyển đổi cây trồng vật nuôi căn cứ vào chất lượng nguồn nước (ngọt, lợ, mặn), hướng đến những chọn lựa canh tác ít hơn nhưng nông sản sau chế biến sẽ có giá trị cao hơn.

Cùng với đó, vùng đồng bằng cần khuyến khích người dân trữ nước mưa, nước sạch vào cuối mùa mưa qua những vật chứa truyền thống dựa vào kinh nghiệm bản địa hoặc giúp người dân xây những bể xi măng chắc chắn hoặc mua các túi chứa nước đặt gần nhà để trữ nước, áp dụng phương pháp tưới khô – ướt xen kẽ (Alternate Wet and Dry Irrigation – AWDI). Khi nguồn nước khan hiếm hoặc có vấn đề, người dân nên tham vấn cộng đồng cách ưu tiên phân phối nguồn nước, ví dụ như ưu tiên cho ăn uống, chăn nuôi gia súc, gia cầm, bổ sung nước cho các ao nuôi thủy sản, các vườn cây có giá trị, nếu cần, cắt bỏ vụ khi nguồn nước thật sự khan hiếm.

Giải pháp công trình cần từ những chọn lựa đầu tư nhỏ hoặc vừa trước khi nghĩ đến những công trình lớn hơn để tránh những hối tiếc khó sửa về sau. Cần lưu ý các biện pháp đầu tư quan trắc và thông tin nguồn nước. Các hoạt động nạo vét kênh mương, ao, vùng trũng nên làm định kỳ. Từng bước đầu tư các nhà máy lấy nước thô từ các tỉnh đầu nguồn (An Giang, Đồng Tháp) bơm nước qua đường ống về bổ sung cho các nhà máy cấp nước vùng ven biển. Giải pháp này tuy tốn kém nhưng nguồn nước đưa về các vùng ven biển ít thất thoát và không nhiễm bẩn, đặc biệt tăng mức độ an toàn cấp nước.

Việc khảo sát, thiết kế và xây dựng các hồ trữ nước cho các tỉnh cũng cần đặt ra nhưng nên chọn theo cách phân tán nhiều ao hồ nhỏ sẽ quản lý hữu hiệu hơn là một công trình hồ chứa quá lớn, quá sâu có thể bị mất nước lớn do thấm, bốc hơi mạnh, nhiễm phèn hoặc rút cạn các ao mương nhỏ chung quanh. Về lâu dài, ĐBSCL nên nghiên cứu thực hiện công nghệ bổ cập nhân tạo nguồn nước dưới đất như là một giải pháp tích nước mùa mưa lũ, có thể để dành, phục hồi sự sụt giảm các vỉa nước ngầm hiện này, hạn chế lún nền đất và có thể sử dụng khi gặp tình huống khan hiếm nước vào mùa khô.

Theo SaigonTimes

Bạn đang đọc bài viết Giải pháp cho vấn đề nguồn nước vùng ĐBSCL tại chuyên mục Tin khác của Hiệp hội VASEP

TIN MỚI CẬP NHẬT

Vietnam Seafood Summit 2026: Từ dự báo thị trường đến lời giải cho tăng trưởng 2027–2029

 |  17:59 30/10/2026

(vasep.com.vn) Chỉ còn chưa đầy hai tuần nữa, Vietnam Seafood Summit 2026 (VSS 2026) sẽ chính thức diễn ra tại Cần Thơ. Với chủ đề “Triển vọng thị trường thủy sản 2027–2029 – Cơ hội và dư địa cho tăng trưởng xuất khẩu hai con số”, Hội nghị được VASEP tổ chức trong bối cảnh doanh nghiệp thủy sản đang đồng thời đối mặt với những thay đổi nhanh của thị trường, nhu cầu người mua, chính sách thương mại và sức ép cạnh tranh ngày càng lớn.

Duy trì hệ vi sinh ổn định trong ao nuôi tôm

 |  07:54 30/10/2026

(vasep.com.vn) Hệ vi sinh đóng vai trò quan trọng trong phân hủy chất hữu cơ, chuyển hóa các hợp chất chứa nitơ và duy trì chất lượng nước ao nuôi tôm. Để hệ vi sinh hoạt động hiệu quả, người nuôi cần kết hợp bổ sung chế phẩm phù hợp, kiểm soát thức ăn và ổn định các yếu tố môi trường.

Hà Tĩnh: Mô hình nuôi tôm càng xanh VietGAP cho lợi nhuận gần 170 triệu đồng/ha

 |  07:53 30/10/2026

(vasep.com.vn) Lần đầu tiên tại Hà Tĩnh, một cơ sở nuôi tôm càng xanh được cấp chứng nhận VietGAP, mở ra hướng phát triển nuôi thủy sản nước ngọt theo hướng an toàn, nâng cao giá trị sản phẩm và hiệu quả kinh tế.

Nga tăng 3% doanh thu xuất khẩu thủy sản sang EU trong 8 tháng đầu năm 2026

 |  07:53 30/10/2026

(vasep.com.vn) Trong 8 tháng đầu năm 2026, Nga xuất khẩu thủy sản sang Liên minh châu Âu (EU) đạt 596 triệu USD, tăng 3% so với cùng kỳ năm 2025. Theo dữ liệu từ Eurostat, tổng khối lượng xuất khẩu đạt khoảng 130.000 tấn, dù chưa công bố mức tăng giảm về sản lượng.

Brazil đạt sản lượng tôm nuôi kỷ lục 172.400 tấn trong năm 2025

 |  07:52 30/10/2026

(vasep.com.vn) Sản lượng tôm nuôi của Brazil năm 2025 đạt mức kỷ lục 172.400 tấn, tăng 18,2% so với năm 2024. Bang Rio Grande do Norte tiếp tục giữ vị trí sản xuất tôm lớn thứ hai cả nước, trong bối cảnh Chính phủ Brazil triển khai các chương trình tín dụng mới nhằm hỗ trợ phát triển nuôi trồng thủy sản.

Anh khuyến nghị người tiêu dùng hạn chế cá hake và coley do lo ngại suy giảm nguồn lợi

 |  07:52 30/10/2026

(vasep.com.vn) Hiệp hội Bảo tồn Biển Anh (Marine Conservation Society – MCS) vừa cập nhật hướng dẫn lựa chọn thủy sản bền vững Good Fish Guide, khuyến nghị người tiêu dùng cân nhắc hạn chế một số loài cá thịt trắng đang chịu áp lực khai thác gia tăng. Cá hake châu Âu tại biển Bắc, vùng biển Celtic và vịnh Biscay bị hạ mức đánh giá từ xanh xuống vàng, trong khi cá coley khai thác quanh vùng biển Anh bị hạ từ vàng xuống đỏ – mức khuyến nghị nên tránh tiêu thụ.

Điểm tin thủy sản thế giới, 24–29/10/2026

 |  17:44 29/10/2026

(vasep.com.vn) Thị trường thủy sản thế giới tuần 24–29/10/2026 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý về thương mại, chính sách, nguồn cung và đầu tư. Mỹ tăng mạnh nhập khẩu tôm, trong khi nguồn cung cá nổi, cá hồi và nguyên liệu sản xuất bột cá tại nhiều quốc gia tiếp tục biến động. Cùng với những điều chỉnh trong quản lý khai thác, nuôi trồng thủy sản tại EU và các nước, hoạt động mua bán, sáp nhập và đầu tư của các tập đoàn thủy sản quốc tế cũng diễn ra sôi động.

Cá minh thái chiếm 20% tiêu thụ cá tại Nga

 |  08:39 29/10/2026

(vasep.com.vn) Cá minh thái Alaska (Alaska pollock) đang ngày càng được người tiêu dùng Nga ưa chuộng, với tỷ trọng đạt 20% tổng lượng tiêu thụ cá tại thị trường nội địa. Theo ông Alexey Buglak, Chủ tịch Hiệp hội các nhà khai thác cá minh thái Nga, loài cá này hiện đứng thứ hai về mức độ phổ biến, chỉ sau cá trích.

Xuất khẩu thủy sản New Zealand sang Trung Quốc tăng trong tháng 9

 |  08:39 29/10/2026

(vasep.com.vn) Xuất khẩu thủy sản New Zealand sang Trung Quốc phục hồi trong tháng 9/2026, tăng gần 17 triệu USD so với cùng kỳ năm 2025, theo số liệu thương mại quốc tế mới nhất do Cơ quan Thống kê New Zealand (Stats NZ) công bố.

VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM

Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội

Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO

Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu

Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn

Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh

Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn

VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội

Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn

© Copyright 2020 - Mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận bằng văn bản của VASEP

DANH MỤC