Tại sao doanh nghiệp đề xuất tăng giờ làm thêm Dự kiến vào ngày 14/3, trong phiên họp thứ 9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ xem xét Dự thảo Nghị quyết về thời giờ làm thêm trong một tháng và trong một năm của người lao động, do Chính phủ trình theo thủ tục rút gọn. Doanh nghiệp, nhất là nhóm sản xuất, đã chờ đợi phương án tăng giờ làm thêm này suốt từ tháng 9/2021, khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 105/2021/NQ-CP về hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trong bối cảnh dịch Covid-19. Tại nghị quyết này, Chính phủ giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục rút gọn trong tháng 9/2021 về việc cho phép doanh nghiệp, hợp tác xã thỏa thuận với người lao động điều chỉnh tăng thời gian làm thêm giờ/tháng phù hợp với diễn biến dịch Covid-19 với điều kiện đảm bảo tổng số giờ làm thêm không quá 300 giờ/năm. Khi đó, đợt dịch lần thứ tư càn quét khắp các tỉnh phía Nam, làm ngưng trệ đột ngột hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa gần 4 tháng, người lao động không có việc, đổ xô về quê… Nhắc lại thời điểm đó, bà Trần Thị Lan Anh, Tổng thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã nhắc lại tình huống căng thẳng khi hàng loạt doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu trong các ngành da giày, dệt may, thủy sản… có thể bị hủy đơn hàng, thậm chí bị mất khách hàng do không đảm bảo tiến độ sản xuất và chi phí hoạt động tăng đột biến. “Việc điều chỉnh tăng giờ làm thêm trong tháng và trong năm nhằm giúp doanh nghiệp phần nào bù đắp được năng suất, sản lượng thiếu hụt trong thời gian dịch bệnh, kịp tiến độ đơn hàng, nhất là đối với các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu”, bà Lan Anh lý giải cho đề xuất mà VCCI và nhiều hiệp hội doanh nghiệp đã gửi tới Chính phủ vào tháng 9/2021. Đáng nói, đây cũng chính là nội dung mà bà Lan Anh chia sẻ khi được hỏi về đề xuất nới trần khung giờ làm thêm trong một tháng (từ 40 giờ lên 72 giờ/tháng) và áp dụng số giờ làm thêm không quá 300 giờ trong một năm đối với tất cả các nhóm ngành mà Chính phủ đã có Dự thảo trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào giữa tháng 2/2022. Gần 6 tháng kể từ thời điểm tháng 9/2021, dịch bệnh dù đã chuyển sang trạng thái hoàn toàn khác, với chiến lược hướng tới không coi Covid-19 là một đại dịch, nhưng khó khăn do tác động của dịch bệnh với doanh nghiệp vẫn rất lớn. Đang có tình trạng doanh nghiệp có 70-80% người lao động là F0, chưa kể số lao động thuộc diện F1 buộc phải cách ly, nên số lao động thực tế là rất thấp. Cộng thêm áp lực từ việc lao động chưa trở lại làm việc sau kỳ nghỉ Tết Âm lịch và nỗi ám ảnh dịch bệnh, không ít doanh nghiệp buộc phải giãn ca sản xuất hay tạm dừng dây chuyền do thiếu hụt lao động. “Chính vì vậy, đề xuất điều chỉnh thời giờ làm thêm là một trong những giải pháp hết sức cần thiết để hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn phục hồi này. Chúng tôi dự đoán, các ngành sẽ cần 1-2 năm để có thể dần hồi phục”, bà Lan Anh nhấn mạnh. Giải pháp căn cơ hay tạm thời Mặc dù đeo đuổi đề xuất tăng giờ làm thêm khá lâu, nhưng không doanh nghiệp nào coi đây là giải pháp căn cơ, tối ưu trong thúc đẩy hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp. Trong nhiều cuộc trao đổi giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước về việc này, các doanh nghiệp thừa nhận, chi phí làm thêm rất cao, từ gấp rưỡi đến gấp 3 lần chi phí trong giờ làm việc bình thường và nguy cơ tai nạn lao động tăng cao là những lý do khiến doanh nghiệp và người lao động cân nhắc trước khi đưa ra quyết định việc làm thêm giờ. Tập đoàn Thủy sản Minh Phú ước tính, sản xuất các sản phẩm trong giờ làm thêm khiến giá thành sản phẩm tăng 20%, nên làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây cũng là lý do nhiều doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp lớn như Minh Phú, Gỗ Trường Thành, Đông Tâm… dành 2 năm Covid-19 để đầu tư đổi mới công nghệ, giảm sự phụ thuộc vào lao động. Nhiều doanh nghiệp cho biết, họ đã trở lại quy mô sản xuất như trước dịch chỉ với 2/3 số lao động, trong đó phần lớn là lao động có tay nghề. “Nếu không cần, doanh nghiệp sẽ không sử dụng đến số giờ làm thêm dù được phép, vì chi phí đội lên, trong khi giá bán không thể tăng. Lý do doanh nghiệp buộc phải sử dụng làm thêm là yếu tố thời vụ trong sản xuất của nhiều lĩnh vực, như vụ thu hoạch nông sản, thủy sản; yếu tố thời trang như với dệt may, da giày…”, ông Nguyễn Hoài Nam, Phó tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản (VASEP) nói. “Trong Dự thảo Tờ trình gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thời giờ làm thêm trong một tháng và trong một năm của người lao động, Chính phủ đề xuất nâng số giờ là thêm một tháng của người lao động từ không quá 40 giờ lên không quá 72 giờ và số giờ làm thêm trong một năm của người lao động là không quá 300 giờ, được áp dụng cho tất cả các ngành nghề, công việc. Vì các nội dung này khác với quy định của Bộ luật Lao động 2019, thuộc thẩm quyền của Quốc hội, căn cứ Nghị quyết 30/2021/QH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội Khóa XV, Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định theo trình tự, thủ tục rút gọn trước khi thực hiện”. Thêm nữa, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu không chỉ phải cạnh tranh với các đối tác trong nước, nước ngoài để có đơn hàng, mà còn phải chịu áp lực giám sát tính tuân thủ trong các hoạt động của doanh nghiệp từ phía đối tác mua hàng. Chỉ cần một thông tin, dấu hiệu nào về việc doanh nghiệp vi phạm quy định, pháp luật, doanh nghiệp sẽ đối mặt với nguy cơ mất đơn hàng. Trước khi Bộ luật Lao động hiện hành cho phép các doanh nghiệp dệt may, da giày, chế biến thủy sản được tăng giờ làm thêm lên 300 giờ/năm, thay vì 200 giờ/năm như luật cũ, Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vinatex) đã từng nhắc tới những cảnh báo từ các đối tác mua hàng trong ngành dệt may về tỷ lệ 82% doanh nghiệp dệt may vi phạm quy định về giờ làm thêm, dù vào những tháng ít việc, thời gian làm việc của người lao động không đến 8 giờ, doanh nghiệp vẫn phải đủ lương… Tình thế này rất có thể sẽ lặp lại nếu như các doanh nghiệp có đơn hàng, cần tập trung nguồn lực, nhân lực hoàn tất sau những đợt giãn cách hoặc tạm dừng do thiếu lao động, nhưng người lao động không được phép làm thêm quá 40 giờ/tháng. Băn khoăn về sự chậm trễ Lúc này, điểm khác so với những cuộc thảo luận, tranh luận về phương án tăng giờ làm thêm hay không trước đó là, không phải chỉ các doanh nghiệp có đặc thù kinh doanh theo thời vụ mới cần đến giờ làm thêm. Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng. Chủ tịch HĐQT Công ty Vina Trifood kể, Công ty bị ảnh hưởng nặng nề bởi Covid-19 trong hơn 2 năm qua. “Doanh nghiệp mất cân đối cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, nếu kéo dài tình trạng đứt gãy, sẽ nguy cơ mất khách hàng truyền thống. Đây là thời điểm chúng tôi tăng tốc thực hiện các đơn hàng, bù đắp cho quãng thời gian trước”, bà Hằng dự kiến. Đặc biệt, Covid-19 cũng đang khiến nhiều doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa như Vina Trifood phải chậm lại kế hoạch đầu tư đổi mới công nghệ để dành nguồn lực phục hồi tài chính, sản xuất. Kế hoạch tăng giờ làm thêm cũng đang trong dự tính. Tuy vậy, bà Hằng cho biết, Công ty sẽ phải trao đổi với người lao động, tính toán chế độ đãi ngộ phù hợp, chưa kể các khoản chi phí để phòng chống dịch bệnh. Bởi vậy, với Vina Trifood, việc này chỉ là giải pháp cấp bách tại thời điểm này để tăng hiệu quả sản xuất. “Đây cũng là cách để người lao động tăng thu nhập, giải quyết khó khăn hiện tại trong cuộc sống. Nhưng chúng tôi sẽ chỉ thực hiện trên cơ sở đảm bảo sức khỏe và điều kiện làm việc, giải quyết tốt mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người lao động trên tinh thần tự nguyện, đôi bên cùng có lợi”, bà Hằng thẳng thắn. Nhưng thực trạng này cũng có nghĩa là, nếu các quyết định về các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp chậm trễ, thì một mặt, kế hoạch phục hồi của không ít doanh nghiệp bị ảnh hưởng, nhưng mặt khác, hiệu quả của chính các giải pháp cũng không còn như các bản đánh giá tác động mà Chính phủ đưa ra.
Ý KIẾN - NHẬN ĐỊNH
Tăng giờ làm thêm cần có thời hạn và được quyết định sớm để có thể áp dụng ngay”
- Ông Hà Văn Thắng, Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam
Hiện tại, nhiều doanh nghiệp cần phục hồi sản xuất, giữ được đơn hàng. Việc tăng giờ làm thêm lúc này rất cần thiết, ở cả góc độ doanh nghiệp và người lao động. Doanh nghiệp có thể giảm chi phí tuyển dụng, chủ động nguồn nhân lực và tăng thu nhập cho công nhân.
Doanh nghiệp cũng xác định, tăng giờ làm là phương án tạm thời để phục hồi nhanh, nên cần có thời hạn và cần được quyết định sớm để có thể áp dụng ngay.
“Tăng giờ làm một giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong ngắn hạn để phục hồi”
- Bà Trần Thị Lan Anh, Tổng thư ký VCCI
Đề xuất điều chỉnh tăng thời gian làm thêm giờ vào thời điểm hiện nay là cần thiết để doanh nghiệp có thể linh hoạt bố trí lực lao động trong hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Nhưng giải pháp này sẽ không áp dụng lâu dài, mà chỉ là một trong những giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong ngắn hạn để phục hồi. Thời gian áp dụng có thể trong 2 năm 2022 - 2023, phù hợp với Chương trình Phục hồi và Phát triển kinh tế - xã hội.
Nguyên tắc thực hiện là doanh nghiệp phải thông tin rõ ràng, minh bạch cho người lao động, tổ chức công đoàn và theo quy định, thì cần phải có sự đồng thuận của người lao động khi làm việc tăng ca.
(vasep.com.vn) Nghiên cứu mới của các nhà khoa học Bồ Đào Nha cho thấy protein thủy phân từ phụ phẩm ngành thực phẩm có thể thay thế một phần bột cá trong khẩu phần nuôi cá vược châu Âu (European seabass) mà không ảnh hưởng đến tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn hay chất lượng phi lê, đồng thời nâng cao tính bền vững của ngành.
(vasep.com.vn) Super Bowl của Liên đoàn Bóng bầu dục Quốc gia Mỹ (NFL) diễn ra ngày 8/2, cùng với Valentine’s Day vào ngày 14/2, đang tạo ra cơ hội lớn cho các nhà bán lẻ và chuỗi nhà hàng tại Mỹ đẩy mạnh các chương trình khuyến mãi, đặc biệt là với mặt hàng thủy sản.
(vasep.com.vn) Việc Liên minh châu Âu (EU) và Ấn Độ công bố hoàn tất đàm phán Hiệp định thương mại tự do (FTA) cuối tháng 1/2026 đang mở ra một giai đoạn cạnh tranh mới trên thị trường thủy sản châu Âu. Trong đó, ngành cá ngừ Việt Nam – vốn coi EU là thị trường quan trọng cho các dòng sản phẩm loin và cá ngừ chế biến – có thể đối mặt rủi ro “xói mòn ưu đãi”, khi một đối thủ lớn về nguồn nguyên liệu và năng lực chế biến như Ấn Độ được mở cánh cửa thuế quan rộng hơn.
(vasep.com.vn) Một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Fish Physiology and Biochemistry cho thấy bột giun nhiều tơ (polychaete meal) từ loài Hediste diversicolor có thể thay thế tới 50% bột cá trong thức ăn cho cá vược châu Âu (Dicentrarchus labrax) mà không ảnh hưởng đến tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn hay chất lượng phi lê.
(vasep.com.vn) Năm 2025, xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam ghi nhận bước tăng trưởng ấn tượng, với tổng kim ngạch đạt hơn 99 triệu USD, cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của mặt hàng này trong cơ cấu xuất khẩu thủy sản. Trong đó, phi lê cá và các loại thịt cá đạt 61 triệu USD, chiếm 61% tổng kim ngạch, khẳng định vị thế là nhóm sản phẩm chủ lực.
(vasep.com.vn) Năm 2025, xuất khẩu cá và hải sản của Nga sang Nhật Bản ghi nhận mức tăng trưởng đáng kể, phản ánh sự phục hồi nhu cầu và khả năng thích ứng của doanh nghiệp Nga trước những biến động của thị trường quốc tế. Theo phân tích của Liên minh Thủy sản Nga dựa trên số liệu hải quan Nhật Bản, kim ngạch xuất khẩu đạt 952 triệu USD, tăng 11% so với năm 2024. Về khối lượng, xuất khẩu đạt 118 nghìn tấn, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước.
(vasep.com.vn) Ngành tôm Indonesia khép lại năm 2025 với sự phục hồi mạnh mẽ trong tháng 12, qua đó bù đắp phần nào những gián đoạn nghiêm trọng tại thị trường Mỹ trong quý IV. Dù tổng khối lượng xuất khẩu cả năm gần như đi ngang, kim ngạch vẫn ghi nhận mức tăng trưởng hai chữ số, phản ánh rõ chiến lược chuyển dịch sang các sản phẩm giá trị gia tăng.
(vasep.com.vn) Theo Rabobank, nền kinh tế Mỹ trong giai đoạn đầu năm 2026 đang trải qua quá trình phục hồi theo mô hình “hình chữ K”, kéo theo sự phân hóa rõ rệt trong hành vi tiêu dùng. Phát biểu tại Hội nghị Thị trường Thủy sản Toàn cầu 2026 (GSMC) diễn ra từ ngày 18–22/1 tại Florida, ông Christian Lawrence, Trưởng bộ phận nghiên cứu thị trường châu Mỹ và năng lượng của Rabobank, cho biết xu hướng này sẽ thúc đẩy đồng thời nhu cầu đối với cả sản phẩm cao cấp lẫn sản phẩm giá trị trong năm nay.
Hoa Kỳ là một trong những thị trường lớn và trọng điểm của thủy sản Việt Nam. Để hỗ trợ doanh nghiệp giữ vững thị phần tại thị trường này, hàng năm, Hiệp hội luôn tổ chức chương trình Triển lãm Thủy sản Bắc Mỹ giúp doanh nghiệp tham gia quảng bá sản phẩm, mở rộng thị trường, tìm kiếm khách hàng mới và cập nhật những xu hướng của thị trường. Triển lãm là cơ hội giúp Doanh nghiệp tiếp cận khách hàng, đồng thời thúc đẩy xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ nói riêng và khu vực Bắc Mỹ nói chung.
(vasep.com.vn) Một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Royal Society Open Science cho thấy người tiêu dùng vẫn tỏ ra khá e ngại đối với cá nuôi bằng thức ăn có nguồn gốc từ côn trùng, do cảm nhận “kém hấp dẫn”. Nghiên cứu do các nhà khoa học từ Đại học Quốc gia Singapore, Đại học Công nghệ Queensland và Đại học Quốc gia Chungnam (Hàn Quốc) thực hiện, được xem là nghiên cứu đầu tiên phân tích sở thích của người tiêu dùng đối với cá đóng gói nuôi bằng các loại thức ăn khác nhau.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn