Các hiệp định thương mại tự do của Việt Nam
Năm 2015, Việt Nam đã lập kỷ lục thế giới về số lượng các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) ký kết với các đối tác phương Đông và phương Tây. Chỉ trong năm này, Việt Nam đã ký kết các Hiệp định thương mại tương tự với Liên minh kinh tế Á - Âu (VEAEUFTA), Hàn Quốc (VKFTA) và hoàn tất tiến trình đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Mới đây nhất, ngày 2/12/2015, Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) đã ký kết tuyên bố kết thúc đàm phán FTA song phương (EVFTA).
Các FTA này đều là “FTA thế hệ mới” được thể hiện ở sự khác biệt với các FTA truyền thống mà Việt Nam đã tham gia là: phạm vi rộng, nội dung vượt ra ngoài cam kết về thương mại, dịch vụ và một phần đầu tư, nó bao gồm cả các thể chế, pháp lý trong các lĩnh vực môi trường, lao động, doanh nghiệp nhà nước, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ…
Yếu tố quan trọng nhất của 1 FTA đó chính là cắt giảm hay dỡ bỏ thuế quan theo lộ trình. Và để được hưởng mức ưu đãi thuế quan lí tưởng từ một FTA cách duy nhất là hàng hóa phải đáp ứng được quy tắc xuất xứ theo quy định riêng của mỗi FTA. Cụ thể, các tiêu chí đối với mặt hàng cá ngừ tươi sống, đông lạnh và khô của Việt Nam mã HS03 trong 4 FTA trên đều yêu cầu xuất xứ thuần túy. Còn đối với cá ngừ chế biến đóng hộp mã HS16, theo VKFTA và VEAEUFTA thì ngoài nguồn nguyên liệu từ chương 3 (mã HS03) có thể sử dụng nguyên liệu NK với hàm lượng khu vực ≥40%; theo EVFTA cá ngừ nguyên liệu sử dụng từ chương 3 (mã HS03) và 16 phải có xuất xứ thuần túy; còn theo TPP chuyển đổi mã số HS ở cấp độ chương (CC).
Cam kết thuế quan của các nước đối tác với mặt hàng cá ngừ XK của Việt Nam
|
CAM KẾT THUẾ QUAN TRONG VKFTA, VN-EAEU VÀ EVFTA |
||||||
|
Mã số HS |
Hiệp định VKFTA |
Hiệp định VN-EAEU |
Hiệp định EVFTA |
|||
|
Thuế MFN |
Cam kết thuế quan |
Thuế MFN |
Cam kết thuế quan |
Thuế MFN |
Cam kết thuế quan |
|
|
0301 – 0305 (cá ngừ) |
- 0301: 10% - 0302: 20% - 0303: 10% - 0304: 0% - 0305: 0 -20% |
0301: Ko giảm thuế, giữ MFN - 0302 – 0305: giảm thuế lộ trình 3-5 năm hoặc giảm một phần |
- 0301 - 0304: 10 % - 0305: 5 -20% |
Toàn bộ về 0%, lộ trình về 0% ngay khi HĐ có hiệu lực hoặc 5 đến 10 năm (2025) |
- 0301 - 0303: 16- 22% - 0304- 0305: 11- 20% |
- 0301 - 0303: về 0% ngay khi HĐ có hiệu lực - 0304 - 0305: lộ trình 3 hoặc 5 năm |
|
1604.14 |
20% |
Đóng hộp (trong đầu hoặc luộc): ko giảm thuế, giữ MFN - Loại khác: lộ trình 10 năm |
15% |
Cá ngừ đóng hộp, thăn cá: lộ trình 10 năm (2025 về 0%) - Loại khác: 0% ngay khi HĐ có hiệu lực |
20% |
Thăn cá ngừ (phi lê): lộ trình 7 năm Đóng hộp và loại khác: HNTQ |
Theo EVFTA, các mặt hàng cá ngừ đóng hộp và chế biến khác, trừ thăn cá ngừ sẽ được hưởng ưu đãi thuế quan 0% trong 1 hạn ngạch 11.500 tấn, ngoài hạn ngạch này sẽ phải chịu thuế theo quy chế tối huệ quốc (MFN).
Cơ hội
EU, Mỹ, Nhật Bản, Mexico, Hàn Quốc, Nga… đều là các thị trường XK chính của Việt Nam. Do đó, việc Việt Nam có được FTA với các nước này sẽ là cơ hội để mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh so với đối thủ chưa có FTA với các đối tác. Việt Nam sẽ thu hút được đầu tư nước ngoài, nâng cao công nghệ sản xuất và chất lượng sản phẩm. Đồng thời, tạo ra động lực mở cửa thị trường, thu hút sự quan tâm của doanh nghiệp hai bên, có điều kiện tham gia chuỗi cung ứng khu vực nhờ sự dịch chuyển đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia, và cơ hội đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu. Bên cạnh đó, các DN Việt Nam được đảm bảo môi trường kinh doanh và thể chế ổn định, minh bạch hơn.
Thách thức
Cùng với các cơ hội, các DN Việt Nam cũng phải đương đầu với các thách thức như: các điều kiện về hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, quy tắc xuất xứ chặt hơn so với các FTA mà Việt Nam đang tham gia; Có nhiều quy định mới và phức tạp; Chất lượng sản phẩm của Việt Nam so với các nước đối tác FTA kém cạnh tranh hơn; Một số sản phẩm xuất khẩu hạn chế về nguồn cung trong nước, vẫn phải sử dụng nguồn cung nhập khẩu; Cạnh tranh với chính sản phẩm của các nước đối tác FTA tại thị trường nội địa; Doanh nghiệp Việt Nam cần phải đổi mới công nghệ để có thể nhanh chóng tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.
Chi tiết nội dung Hội nghị xem tại đây
(vasep.com.vn) Xuất khẩu thủy sản của Nhật Bản trong tháng 7/2026 ghi nhận diễn biến trái chiều khi sản lượng giảm mạnh nhưng giá trị vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước. Theo số liệu thương mại của Bộ Tài chính Nhật Bản, tổng lượng thủy sản xuất khẩu, gồm thủy sản tươi sống, sản phẩm chế biến và bột cá, đạt 38.597 tấn, giảm 35%, trong khi kim ngạch đạt 30,53 tỷ yên, tăng 15%.
(vasep.com.vn) Cơ quan quản lý cảng New Mangalore (NMPA) vừa xử lý thành công lô hàng bột cá xuất khẩu lên tới 3.000 tấn. Toàn bộ lô hàng được đóng trong các bao jumbo và bốc xếp lên tàu MV CHRISTINA tại Cầu cảng số 4.
(vasep.com.vn) Chi phí thức ăn hiện chiếm từ 60% đến 85% tổng chi phí sản xuất tại các trại nuôi cá tra ở Nam Á và Đông Nam Á. Với vị thế là khu vực sản xuất cá da trơn lớn nhất thế giới—trong đó Việt Nam dẫn đầu với 1,75 triệu tấn vào năm 2023, chiếm 51% tổng sản lượng toàn cầu—việc cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) đóng vai trò quyết định giúp nhà nông bảo đảm và gia tăng lợi nhuận.
Văn phòng Hiệp hội xin vô cùng thương tiếc báo tin:
(vasep.com.vn) Ngày 14/9/2026, Hạ viện Mỹ đã thông qua dự luật "Thực thi chống đánh bắt Cá hồng và Cá ngừ bất hợp pháp" (Illegal Red Snapper and Tuna Enforcement Act) lên Tổng thống Donald Trump để ký ban hành thành luật.
(vasep.com.vn) Nhu cầu đối với các nguyên liệu biển dùng để sản xuất bột cá và dầu cá tiếp tục tăng, trong khi nhiều dấu hiệu đang cho thấy ngành nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm, có thể phải đối mặt với một khoảng thiếu hụt nguồn cung đáng kể trong những năm tới.
(vasep.com.vn) Đức đang nổi lên như một trung tâm đổi mới quan trọng trong lĩnh vực nuôi cá hiện đại, dù sản lượng thủy sản nuôi trong nước còn tương đối khiêm tốn. Theo báo cáo mới nhất của Hatch Blue, khoảng 90% thủy sản tiêu thụ tại Đức hiện phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu.
(vasep.com.vn) Hiệp hội Cá minh thái và Viện Nghiên cứu Thực phẩm dành cho Trẻ em thuộc Trung tâm Nghiên cứu Liên bang về Dinh dưỡng và Công nghệ sinh học Nga vừa ký thỏa thuận hợp tác bên lề Diễn đàn Kinh tế Phương Đông (EEF), nhằm phát triển các dòng sản phẩm từ cá dành cho trẻ em.
(vasep.com.vn) Trong quá trình tìm kiếm hướng đi mới cho ngành cá rô phi, phát triển nuôi trong môi trường nước lợ có thể mở ra một lợi thế khác biệt cho Việt Nam. Thay vì cạnh tranh chủ yếu về sản lượng và giá thành với những quốc gia có ngành rô phi phát triển, Việt Nam có thể tạo dấu ấn bằng những sản phẩm cá rô phi chất lượng cao, gắn với điều kiện nuôi đặc thù và phân khúc thị trường giá trị gia tăng.
(vasep.com.vn) Việc thương mại hóa sản xuất tôm giống đã giúp người nuôi Ấn Độ từng bước giảm phụ thuộc vào nguồn tôm sú giống tự nhiên, đồng thời tạo nền tảng để tôm thẻ chân trắng được nuôi với quy mô lớn.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn