Báo cáo này bao gồm các ý kiến của các nhà nghiên cứu từ Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên, Trường Imperial College London, UCLA và Cục Địa chất và Hải dương học Quốc gia, đã được công bố trên tạp chí Nature Ecology and Evolution vào tháng 8/2017, cho thấy tiềm năng của đại dương trong ngành nuôi trồng thủy sản.
Tác giả chính Rebecca Gentry, người đã hoàn thành chương trình tiến sỹ tại Trường Khoa học và Quản lý Môi trường Bren của UCSB cho biết, có rất nhiều cơ hội phát triển ngành nuôi trồng thủy sản, đặc biệt nuôi biển, và không gian đại dương không phải là điều hạn chế ngành. Mà sự hạn chế là do việc quản trị và các điều kiện kinh tế.
Theo nghiên cứu này, trong những đánh giá toàn cầu đầu tiên về tiềm năng nuôi biển, các khu vực ở miền trung Indonesia, Fiji và Kenya có nhiều tiềm năng nuôi biển, những khu vực này có đủ không gian để sản xuất 15 tỉ tấn cá hàng năm, gấp 100 lần tiêu thụ thủy sản toàn cầu hiện nay.
Thực tế hơn, các nhà nghiên cứu lưu ý rằng, nếu nuôi trồng thủy sản chỉ được phát triển ở những vùng có năng suất cao nhất, trong khi đó các đại dương trên lý thuyết có thể sản xuất cùng khối lượng thủy hải sản mà hiện ngành đánh bắt tự nhiên trên thế giới đang sản xuất phục vụ toàn cầu, nhưng tỷ lệ nuôi biển chỉ chiếm dưới 1% tổng không gian mặt biển, bằng kích thước của hồ Michigan.
Gentry cho biết, chỉ có một vài quốc gia mà sản lượng chính là từ nguồn nuôi biển. Nuôi trồng thủy sản có thể lan rộng khắp thế giới, và mọi quốc gia ven biển đều có cơ hội phát triển.
Ví dụ, Mỹ có tiềm năng lớn nhưng chưa được khai thác và có thể sản xuất đủ khối lượng thủy hải sản nuôi để đáp ứng nhu cầu quốc gia, tuy nhiên quốc gia này chỉ sử dụng 0,01% vùng đặc quyền kinh tế của mình, Gentry cho biết. Với việc NK hơn 90% lượng thủy hải sản của Mỹ, nuôi trồng thủy sản là cơ hội lớn trong việc tăng nguồn cung trong nước và giảm thâm hụt thương mại thủy sản của quốc gia, hiện nay tổng thâm hụt đạt hơn 13 tỷ USD.
Đồng tác giả Ben Halpern, giám đốc điều hành của UCSB trực thuộc Trung tâm Quốc gia về Phân tích và Tổng hợp Sinh thái (NCEAS) cho biết, nuôi biển giúp người dân có công ăn việc làm và góp phần tăng trưởng kinh tế, ngoài việc cung cấp an ninh lương thực. Ngành nuôi trồng thuỷ sản đóng góp một phần quan trọng trong sản xuất lương thực trong tương lai, kết quả nghiên cứu này giúp chúng ta định hướng ngành.
Để xác định tiềm năng toàn cầu trong ngành nuôi trồng thuỷ sản, các nhà nghiên cứu xác định các khu vực có điều kiện đại dương phù hợp trong việc xây dựng các trang trại nuôi. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu tổng hợp về các thông số hải dương học như độ sâu và nhiệt độ đại dương và nhu cầu sinh học của 180 loài cá và nhuyễn thể hai mảnh, như trai và vẹm.
Nhóm nghiên cứu loại trừ những địa điểm xung đột với các mục đích sử dụng khác của con người, chẳng hạn như các khu vực vận chuyển cao và các khu bảo tồn biển, và loại trừ các vùng biển sâu hơn 200 mét, theo thực tiễn của ngành để đánh giá thực tế kinh tế. Phân tích không xem xét đến các khó khăn chính trị xã hội có thể làm hạn chế sản xuất trong ngành.
Đồng tác giả Halley Froehlich nhấn mạnh, nuôi trồng thuỷ sản cũng có thể giúp bù đắp cho những hạn chế trong khai thác tự nhiên. Trong hai thập kỷ qua, ngành công nghiệp khai thác tự nhiên có những hạn chế nhất định trong sản xuất, sản lượng dừng ở mức khoảng 90 triệu tấn, trong khi dấu hiệu phục hồi còn mờ nhạt.
Froehlich, nhà nghiên cứu bậc tiến sĩ tại NCEAS, cho biết, ngành nuôi trồng thuỷ sản dự kiến sẽ tăng 39% trong thập kỷ tới. Không chỉ với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, số lượng các sản phẩm nuôi trồng thủy sản đã vượt qua sản lượng đánh bắt tự nhiên và sản lượng thịt bò.
Froehlich nhấn mạnh rằng khoa học, bảo tồn, chính sách và ngành phải cùng hợp tác để đảm bảo rằng các trang trại nuôi cá không chỉ có vị trí tốt mà còn được quản lý tốt như việc cân bằng dinh dưỡng đầu vào và đầu ra để tránh ô nhiễm và giám sát dịch bệnh chặt chẽ. Nghiên cứu này là một bước đi theo hướng đó.
Giống như bất kỳ ngành lương thực nào, các bước phát triển nuôi trồng thủy sản có thể được thực hiện không đúng cách, và thực tế đã chứng minh, ví dụ sự bùng nổ và phá sản trong ngành nuôi tôm vào những năm 1990, do sự quản lý kém. Đây thực sự là cơ hội để định hình tương lai trong ngành thực phẩm để cải thiện nguồn cung cho con người và bảo vệ môi trường.
Nghiên cứu này là một phần của Hiệp hội Khoa học Thiên nhiên và Con người, cùng sự cộng tác của NCEAS, Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên và Bảo tồn Động vật Hoang dã.
(vasep.com.vn) Chính quyền bang Karnataka đang xem xét tăng mạnh mức phạt đối với tàu cá từ các bang khác khai thác trái phép trong vùng biển thuộc thẩm quyền của bang này.
(vasep.com.vn) Hiện tượng El Niño đang làm gia tăng rủi ro đối với ngành nuôi trồng thủy sản Bangladesh khi nắng nóng, nguồn nguyên liệu không ổn định và chi phí thức ăn tăng tác động đồng thời đến sản xuất cá và thức ăn thủy sản. Mohammed Tarique Sarker, Giám đốc điều hành FISHTECH HATCHERY LTD, cho biết những biến động này đang gây sức ép đáng kể lên người nuôi, trong bối cảnh NOAA dự báo khả năng El Niño ở mức rất mạnh trong mùa đông 2026-2027 vượt 90%.
(vasep.com.vn) Sản lượng cá rô phi tại Brazil đạt 533.700 tấn trong năm 2025, tăng 5,4% so với năm 2024 và chiếm 68,2% tổng sản lượng cá nuôi của nước này. Số liệu do Viện Địa lý và Thống kê Brazil (IBGE) công bố trong Khảo sát Chăn nuôi cấp đô thị (PPM), cho thấy cá rô phi tiếp tục giữ vị trí chủ lực trong ngành nuôi cá Brazil.
(vasep.com.vn) Thị trường thay đổi nhanh hơn, yêu cầu của người mua cao hơn và các rào cản thương mại ngày càng phức tạp. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp thủy sản không chỉ cần biết “thị trường hôm nay thế nào”, mà cần một góc nhìn dài hơn để trả lời câu hỏi: từ 2027–2029, cơ hội tăng trưởng sẽ đến từ đâu và cần chuẩn bị gì ngay từ bây giờ? Đó là một trong những lý do VASEP tổ chức Vietnam Seafood Summit 2026.
(vasep.com.vn) Theo dữ liệu từ Hiệp hội Chủ tàu Nga (ASRF), trong 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản của Nga sang Brazil đạt 580 tấn với trị giá 3,54 triệu USD. Các chỉ số này tăng tương ứng 3 lần về khối lượng và 15 lần về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Sự gia tăng này một phần xuất phát từ mức nền thấp của năm 2025, với tỷ trọng xuất khẩu tập trung chủ yếu vào cá tuyết và cá minh thái.
(vasep.com.vn) Cá chim vây vàng đang trở thành đối tượng có tiềm năng trong phát triển nuôi biển công nghệ cao, góp phần đa dạng hóa sản phẩm thủy sản và nâng cao giá trị kinh tế tại các địa phương ven biển. Việc kết hợp công nghệ nuôi hiện đại với quản lý môi trường được xem là hướng đi quan trọng để phát triển nghề nuôi cá biển theo hướng bền vững.
(vasep.com.vn) Tôm giống SPF và SPR có đặc tính sinh học và mục tiêu sử dụng khác nhau. Hiểu đúng hai khái niệm này giúp người nuôi lựa chọn con giống phù hợp với điều kiện ao nuôi, giảm rủi ro dịch bệnh và nâng cao hiệu quả sản xuất.
(vasep.com.vn) Papua New Guinea (PNG) kêu gọi tăng cường hợp tác quốc tế, ứng dụng công nghệ giám sát và nâng cao năng lực thực thi pháp luật nhằm chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
Sở hữu mô hình nuôi tôm thẻ công nghệ cao cho doanh thu trên 200 tỉ đồng/năm, ông Đặng Văn Bảy (Vĩnh Long) được T.Ư Hội Nông dân Việt Nam vinh danh là Nông dân Việt Nam xuất sắc 40 năm đổi mới.
(vasep.com.vn) Bộ Thương mại Mỹ (DOC) vừa công bố kết quả cuối cùng đợt rà soát hành chính thuế chống bán phá giá (CBPG) đối với tôm nước ấm đông lạnh nhập khẩu từ Thái Lan trong giai đoạn từ ngày 1/2/2024 đến 31/1/2025.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn