Mục tiêu
Mục tiêu đến năm 2030, về năng lực, đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa, giao thương giữa các vùng, miền trong cả nước và hàng trung chuyển, quá cảnh cho các nước trong khu vực cũng như nhu cầu vận tải hành khách nội địa và quốc tế. Hệ thống cảng biển đáp ứng thông qua lượng hàng hóa từ 1.140 đến 1.423 triệu tấn (trong đó hàng container từ 38 đến 47 triệu TEU); hành khách từ 10,1 đến 10,3 triệu lượt khách.
Về kết cấu hạ tầng, ưu tiên phát triển các khu bến cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện (Hải Phòng), Cái Mép (Bà Rịa-Vũng Tàu). Nghiên cứu cơ chế chính sách phù hợp phát triển từng bước cảng trung chuyển quốc tế tại Vân Phong (Khánh Hòa) để khai thác tiềm năng về điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý. Quy hoạch định hướng phát triển bến cảng Trần Đề (Sóc Trăng) phục vụ ĐBSCL để có thể triển khai đầu tư khi có đủ điều kiện; các cảng biển quy mô lớn phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của cả nước hoặc liên vùng; các bến cảng khách quốc tế gắn với các vùng động lực phát triển du lịch; các bến cảng quy mô lớn phục vụ các khu kinh tế, khu công nghiệp; các bến cảng tại các huyện đảo phục vụ phát triển kinh tế-xã hội gắn với quốc phòng-an ninh và chủ quyền biển đảo.
Tầm nhìn đến năm 2050: Năng lực hệ thống cảng biển đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 4,0 - 4,5%/năm.
5 nhóm hệ thống cảng biển Việt Nam
Quyết định nêu rõ, Hệ thống cảng biển Việt Nam gồm 5 nhóm:
Nhóm 1 gồm 5 cảng biển: Cảng biển Hải Phòng, cảng biển Quảng Ninh, cảng biển Thái Bình, cảng biển Nam Định và cảng biển Ninh Bình.
Đến năm 2030: Hàng hóa thông qua nhóm cảng biển số 1 là từ 305 triệu tấn đến 367 triệu tấn (hàng container từ 11 đến 15 triệu TEU); hành khách từ 162.000 đến 164.000 lượt.
Tầm nhìn đến 2050: Đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 5,0-5,3%/năm; hành khách tăng trưởng bình quân khoảng từ 1,5-1,6%/năm. Hoàn thành đầu tư khu bến cảng Lạch Huyện, Cái Lân và di dời các bến cảng trên sông Cấm phù hợp với quy hoạch phát triển thành phố Hải Phòng; đầu tư phát triển các bến cảng tại khu bến Nam Đồ Sơn - Văn Úc, Cẩm Phả, Hải Hà.
Nhóm 2 gồm 6 cảng biển: Cảng biển Thanh Hóa, cảng biển Nghệ An, cảng biển Hà Tĩnh, cảng biển Quảng Bình, cảng biển Quảng Trị và cảng biển Thừa Thiên Huế.
Đến năm 2030 hàng hóa thông qua nhóm cảng biển số 2 từ 172 triệu tấn đến 255 triệu tấn (hàng container từ 0,6-1 triệu TEU); hành khách từ 202.000 đến 204.000 lượt khách. Tầm nhìn đến 2050: Đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 3,6-4,5%/năm; hành khách tăng trưởng bình quân khoảng từ 0,4-0,5%/năm. Hoàn thiện đầu tư, phát triển cụm cảng Nghi Sơn - Đông Hồi, Vũng Áng và Sơn Dương - Hòn La.
Nhóm 3 gồm 8 cảng biển: Cảng biển Đà Nẵng (gồm khu vực huyện đảo Hoàng Sa), cảng biển Quảng Nam, cảng biển Quảng Ngãi, cảng biển Bình Định, cảng biển Phú Yên, cảng biển Khánh Hòa (gồm khu vực huyện đảo Trường Sa), cảng biển Ninh Thuận và cảng biển Bình Thuận.
Đến năm 2030 hàng hóa thông qua từ 138 triệu tấn đến 181 triệu tấn (hàng container đạt từ 1,8-2,5 triệu TEU); hành khách từ 1,9-2,0 triệu lượt khách. Tầm nhìn đến 2050: đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 4,5-5,5 %/năm; hành khách tăng trưởng bình quân khoảng từ 1,7-1,8%/năm. Hoàn thành đầu tư toàn bộ khu bến cảng Liên Chiểu (Đà Nẵng) và hình thành cảng phục vụ hàng hóa trung chuyển quốc tế tại Vân Phong (Khánh Hòa).
Nhóm 4 gồm 5 cảng biển: Cảng biển Thành phố Hồ Chí Minh, cảng biển Đồng Nai, cảng biển Bà Rịa - Vũng Tàu, cảng biển Bình Dương và cảng biển Long An.
Đến năm 2030 hàng hóa thông qua nhóm cảng biển số 4 từ 461-540 triệu tấn (hàng container từ 23-28 triệu TEU); hành khách từ 1,7-1,8 triệu lượt khách. Tầm nhìn đến 2050: đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 3,5-3,8 %/năm; hành khách tăng trưởng bình quân khoảng từ 0,9-1,0 %/năm. Hoàn thành đầu tư các bến cảng Cái Mép Hạ. Nghiên cứu hình thành các khu bến cảng mới tại Cần Giờ (trên sông Gò Gia), hoàn thành công tác di dời các bến cảng trên sông Sài Gòn và tiếp tục nghiên cứu di dời các khu bến khác phù hợp với phát triển không gian đô thị Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhóm 5 gồm 12 cảng biển: Cảng biển Cần Thơ, cảng biển Đồng Tháp, cảng biển Tiền Giang, cảng biển Vĩnh Long, cảng biển Bến Tre, cảng biển An Giang, cảng biển Hậu Giang, cảng biển Sóc Trăng, cảng biển Trà Vinh, cảng biển Cà Mau, cảng biển Bạc Liêu và cảng biển Kiên Giang.
Đến năm 2030 hàng hóa thông qua nhóm cảng biển số 5 từ 64-80 triệu tấn (hàng container từ 0,6-0,8 triệu TEU); hành khách từ 6,1-6,2 triệu lượt khách. Tầm nhìn đến 2050: Đáp ứng nhu cầu thông qua hàng hóa với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng từ 5,5-6,1%; hành khách tăng trưởng bình quân khoảng từ 1,1-1,25%. Hình thành cảng cửa ngõ khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
4 loại cảng biển theo quy mô, chức năng
Theo quy mô, chức năng, hệ thống cảng biển Việt Nam gồm 4 loại:
(1) Cảng biển đặc biệt (2 cảng biển): Cảng biển Hải Phòng và cảng biển Bà Rịa - Vũng Tàu.
(2) Cảng biển loại I (15 cảng biển): Cảng biển Quảng Ninh, cảng biển Thanh Hóa, cảng biển Nghệ An, cảng biển Hà Tĩnh, cảng biển Thừa Thiên Huế, cảng biển Đà Nẵng, cảng biển Quảng Nam, cảng biển Quảng Ngãi, cảng biển Bình Định, cảng biển Khánh Hòa, cảng biển Thành phố Hồ Chí Minh, cảng biển Đồng Nai, cảng biển Cần Thơ, cảng biển Long An, cảng biển Trà Vinh. Trong đó, các cảng biển Thanh Hóa, Đà Nẵng, Khánh Hòa quy hoạch tiềm năng thành cảng biển đặc biệt.
(3) Cảng biển loại II (6 cảng biển): Cảng biển Quảng Bình, cảng biển Quảng Trị, cảng biển Ninh Thuận, cảng biển Bình Thuận, cảng biển Hậu Giang, cảng biển Đồng Tháp.
(4) Cảng biển loại III (13 cảng biển): Cảng biển Thái Bình, cảng biển Nam Định, cảng biển Ninh Bình, cảng biển Phú Yên, cảng biển Bình Dương, cảng biển Vĩnh Long, cảng biển Tiền Giang, cảng biển Bến Tre, cảng biển Sóc Trăng, cảng biển An Giang, cảng biển Kiên Giang, cảng biển Bạc Liêu, cảng biển Cà Mau. Trong đó, Cảng biển Sóc Trăng quy hoạch tiềm năng thành cảng biển đặc biệt.
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) chính thức công bố Triển lãm Quốc tế Thủy sản Việt Nam (Vietfish 2026) sẽ diễn ra từ ngày 19/08 đến ngày 21/08/2026 tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC), TP. Hồ Chí Minh.
(vasep.com.vn) Indonesia lần đầu tiên xuất khẩu 10,5 tấn cá trê ướp sang Đài Loan, với tổng trị giá khoảng 400 triệu rupiah (25.000 USD), mở thêm cơ hội cho các sản phẩm thủy sản chế biến của nước này tại thị trường quốc tế.
(vasep.com.vn) Chính phủ Canada vừa công bố chương trình tự nguyện mua lại giấy phép khai thác hàu nhằm hỗ trợ các ngư dân tại vùng bờ biển Đại Tây Dương chịu thiệt hại nặng nề do dịch bệnh trên quần thể hàu.
Trong bối cảnh ngành tôm Việt Nam đứng trước yêu cầu nâng cao chất lượng con giống, chủ động nguồn tôm bố mẹ và giảm chi phí sản xuất, khoa học công nghệ và năng lực chọn giống ngày càng giữ vai trò quan trọng. Sau 25 năm phát triển, Tập đoàn Việt Úc công bố chiến lược chuyển đổi từ Aquafarm sang Tập đoàn Công nghệ Thủy sản (AquaTech), khi doanh nghiệp đã hội đủ các điều kiện quan trọng để chuyển mình.
(vasep.com.vn) Liên minh châu Âu (EU) đang lựa chọn cách tiếp cận kiềm chế hơn trước căng thẳng thương mại leo thang với Mỹ. Theo Politico, EU muốn tránh đối đầu công khai với Tổng thống Mỹ Donald Trump, đồng thời kéo dài thời gian để xử lý các đe dọa thuế quan mới thông qua các kênh kỹ thuật và pháp lý.
(vasep.com.vn) Thị trường bột cá toàn cầu vẫn trong tình trạng khan hiếm khi mùa khai thác cá cơm (anchovy) tại khu vực Bắc – Trung Peru tiếp tục bị đình chỉ. Mặc dù tồn kho bột cá tại các cảng lớn của Trung Quốc đã nhích tăng trở lại sau nhiều tuần giảm liên tiếp, nguồn cung bột cá chất lượng cao từ Peru vẫn rất hạn chế, khiến giá duy trì ở mức cao kỷ lục.
(vasep.com.vn) Brazil tiếp tục là một trong những thị trường quan trọng của cá tra Việt Nam tại Nam Mỹ. Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sang thị trường này có xu hướng chững lại, trong khi phile đông lạnh vẫn chiếm phần lớn cơ cấu xuất khẩu.
(vasep.com.vn) Thị trường cá rô phi toàn cầu đang duy trì đà tăng trưởng, mở ra dư địa lớn cho các quốc gia có lợi thế về nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu. Trong bối cảnh đó, ngành cá rô phi Việt Nam đang từng bước phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, đa dạng sản phẩm và mở rộng thị trường. Tại Vietfish 2026, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cùng Câu lạc bộ doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu cá rô phi VASEP sẽ tổ chức gian hàng chung nhằm quảng bá hình ảnh và tiềm năng của cá rô phi Việt Nam tới khách hàng trong nước và quốc tế.
(vasep.com.vn) Mô hình nuôi tôm kết hợp rừng ngập mặn đang được xem là hướng phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nhu cầu tiêu dùng xanh gia tăng. Nhờ tận dụng hệ sinh thái tự nhiên, rừng ngập mặn giúp lọc nước, giảm ô nhiễm, ổn định môi trường ao nuôi và hạn chế dịch bệnh.
(vasep.com.vn) Chính phủ Ireland đang triển khai Dự thảo Kế hoạch quản lý nghề cá đáy biển Ireland (Irish Sea Demersal Fisheries Management Plan) với trọng tâm là phục hồi quần đàn cá tuyết.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn