90-95% thủy sản NK dạng nguyên liệu tươi/đông lạnh
Từ năm 2011 đến nay, NK thủy sản vào Việt Nam tăng đều, từ 541 triệu USD năm 2011 lên 1,7 tỷ USD năm 2018. Nửa đầu năm 2019, NK thủy sản vào Việt Nam vẫn tăng nhẹ 2% so với cùng kỳ năm 2018, đạt trên 879 triệu USD. Giá trị NK hàng tháng trung bình khoảng gần 150 triệu USD. Ước tính năm 2019, NK thủy sản của Việt Nam có thể lên tới 1,8 tỷ USD.
Nửa đầu năm nay, NK các mặt hàng hải sản tăng mạnh: cá ngừ tăng 36% đạt 232 triệu USD, chiếm tỷ trọng cao nhất với 26%, mực, bạch tuộc tăng 20% đạt 71 triệu USD, cua ghẹ tăng gần gấp đôi lên 31 triệu USD, cá biển khác tăng 10% lên 368 triệu USD và chiếm gần 42% NK…Trong khi đó, NK tôm giảm mạnh (-42%) đạt 151 triệu USD, chiếm 17% NK.
Riêng các sản phẩm tươi/đông lạnh NK phục vụ chế biến XK chiếm 94% tổng giá trị NK thủy sản với 822 triệu USD. Việt Nam NK nhiều nhất là các loại cá biển tươi/đông lạnh nguyên con, chiếm 33%
NK tôm chân trắng đông lạnh chiếm gần 11% tổng giá trị NK thủy sản…Những con số thực tế NK cho thấy trên 90% khối lượng thủy sản NK là dạng nguyên liệu phục vụ cho sản xuất XK và gia công XK và gia công cho các công ty nước ngoài.
NK thủy sản để SXXK và GCXK - xu hướng tất yếu để duy trì và phát triển vị thế Việt Nam trên thị trường thế giới
Trong nhiều năm qua, nguồn nguyên liệu thủy sản trong nước cho chế biến XK thiếu hụt so với nhu cầu đặt hàng của thế giới, việc NK nguyên liệu để SXXK và GCXK là sự bù đắp cần thiết và quan trọng cho kim ngạch XK thủy sản, củng cố năng lực cạnh tranh, uy tín DN và vị thế của ngành chế biến XK thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới.
Nguồn nguyên liệu NK để SXXK và GCXK ngày càng đem lại giá trị kim ngạch cao hơn và đóng góp tỷ trọng gia tăng trong tổng XK thủy sản của Việt Nam. Đặc biệt trong 5 năm gần đây, tỷ trọng của giá trị XK thủy sản từ nguyên liệu NK trong tổng kim ngạch XK tăng từ 24-30%, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước XK thủy sản lớn thứ 3 thế giới, chỉ sau Trung Quốc và Na Uy.
Báo cáo sản xuất hàng năm cho thấy sản lượng thủy hải sản trong nước vẫn tăng nhưng với việc hội nhập sâu rộng, hệ thống các nhà máy chế biến thủy sản phát triển cả về quy mô và công nghệ nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản.
Sản lượng khai thác trong những năm qua tăng trưởng không lớn, và trong số đó cũng chỉ một tỷ lệ nhất định cập cảng đạt đủ tiêu chuẩn chất lượng cho chế biến XK. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của khí hậu, thiên tai nên mùa vụ có sự thay đổi, nguồn cá di cư, đến mùa vụ DN không mua được nguyên liệu để dự trữ chế biến trong năm, DN không chủ động được nguồn hàng nên nhiều trường hợp đã bỏ lỡ hợp đồng với khách hàng. Một số sản phẩm chủ lực, có uy tín của Việt Nam hiện nay gần như không còn như: cá trích, cá mòi, cá bánh đường, cá thầy bói...và ít dần đi như: cá đuối, cá hố, cá bò da, cá đổng, cá gáy, mực – bạch tuộc....
Do vậy, NK nguyên liệu để SXXK và GCXK là một giải pháp tối ưu lợi thế công nghệ & công suất chế biến để các nhà máy tạo ra nguồn bổ sung cho nguyên liệu sản xuất trong nước, giải quyết về cơ bản tình trạng thiếu nguyên liệu cho chế biến XK, khắc phục tính mùa vụ của cung ứng nguyên liệu tại chỗ, đảm bảo công ăn việc làm thường xuyên cho hàng chục vạn người lao động trong các nhà máy, tạo điều kiện để các DN Việt nâng cao năng lực cạnh tranh & vị thế quốc tế.
Từ một nước XK thủy sản đứng thứ 6 thế giới từ cách đây 20 năm, Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 4 sau 10 năm và trong 10 năm gần đây đã vượt qua Thái Lan trở thành nước XK thủy sản đứng thứ 3 thế giới chỉ sau Trung Quốc và Na Uy. Đó là 10 năm phát triển mạnh mẽ cả về nuôi trồng thủy sản, chế biến XK và sử dụng hiệu quả linh hoạt nguồn nguyên liệu trong nước, kết hợp với nguồn nguyên liệu NK để sản xuất XK và gia công XK.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ, trước những thách thức về áp lực cạnh tranh giá XK, sự điều chỉnh trong phân công lao động quốc tế hiện nay thì NK nguyên liệu thủy sản để SXXK và GCXK là giải pháp vĩ mô và cần thiết để đưa Việt Nam thâm nhập sâu vào nền kinh tế và thương mại thủy sản thế giới, tạo bước chuyển mới về chất cho công nghiệp thủy sản, đưa nước ta lên vị thế mới trên thị trường quốc tế.
Việc tăng cường NK nguyên liệu lên qui mô lớn sẽ tạo cân bằng tốt hơn về cán cân XNK cho quốc gia và góp phần giảm nhập siêu trong cân đối vĩ mô. Việc NK nguyên liệu với qui mô lớn sẽ tạo cân đối trong vận chuyển 2 chiều giữa các nước với Việt Nam, giảm được giá cước vận tải hàng XK, giảm được việc vận chuyển container rỗng từ thị trường nước ngoài về Việt Nam, giải quyết được tình trạng thiếu container lạnh hiện nay.
Việc NK nguyên liệu thủy sản có ưu thế vượt trội do không phải đầu tư lớn và tránh được các tổn thất về môi trường, nguồn tài nguyên và hệ sinh thái trong nước do phát triển quá mức công nghiệp khai thác và nuôi trồng thủy sản gây ra, phù hợp với xu thế của các tỉnh ven biển hiện nay là ưu tiên phát triển du lịch và dịch vụ.
Ngoài ra, việc NK nguyên liệu đã sơ chế cũng tạo điều kiện bắt buộc các nhà máy chế biến thủy sản Việt Nam phải đầu tư các dây chuyền chế biến tiên tiến, kỹ thuật cao, phương thức quản lý hiện đại tạo tiền đề cho các nhà NK nước ngoài chuyển dần việc chế biến các mặt hàng giá trị gia tăng, đa dạng đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế, giảm bớt tỷ trọng xuất sản phẩm nguyên liệu giá trị thấp, thu được lợi nhuận cao hơn trên xuất, quay vòng vốn nhanh.
Hơn nữa, việc NK thủy sản để SXXK và GCXK đã trở thành xu hướng tất yếu mà các nước sản xuất – XK khác như Thái Lan, Trung Quốc đang thực hiện & cạnh tranh quyết liệt nguồn nguyên liệu với Việt Nam. Thái Lan là một nước có ngành chế biến thủy sản XK rất phát triển, năm 2018 đã XK 1,2 triệu tấn thủy sản để đạt kim ngạch 5,8 tỷ USD, nước này đã phải NK tới 1,9 triệu tấn thủy sản nguyên liệu với giá trị 3,8 tỷ USD.
NK nguyên liệu thủy sản - cần chính sách hỗ trợ vì mục tiêu kinh tế vĩ mô
Trước đây, một số chính sách chưa hoàn toàn ủng hộ việc nhập khẩu một số loài nguyên liệu thủy sản chủ lực mà trong nước sản xuất được. Trước các cơ hội lớn của thị trường, các đầu tư lớn của khu vực tư nhân vào chế biến thủy sản và đặc biệt là lợi ích nhìn thấy khi quay vòng vốn nhanh để tạo lợi thế cạnh tranh khi có được sự bổ sung từ nguồn nguyên liệu nhập khẩu - Bộ NN và PTNT đã từng bước ủng hộ việc NK nguyên liệu thủy sản để phục vụ cho chiến lược phát triển thủy sản và qui hoạch chế biến thủy sản.
Trong công văn 3352/BNN-CB ngày 16/11/2011 của Bộ NNPTNT gửi Bộ Tài chính đã khẳng định việc NK nguyên liệu thủy sản phục vụ chế biến xuất khẩu là cần thiết và góp phần quan trọng để giữ vững nhịp độ tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cũng như phát huy hiệu quả năng lực sản xuất của nhà máy chế biến, tạo thêm việc làm, tăng giá trị gia tăng của sản phẩm đặc biệt trong bối cảnh thiếu hụt nguồn cung nguyên liệu sản xuất trong nước cho chế biến xuất khẩu.
Trước tháng 9/2016, khi mà một số nước trong khu vực như Thái Lan và Trung Quốc đã đưa thuế suất NK nguyên liệu thủy hải sản xuống bằng 0, và thuế NK nguyên liệu thủy sản cho SXXK và GCXK của Việt Nam cũng được áp 0% nhưng kèm với thủ tục ân hạn thuế trong 275 ngày với không ít những thủ tục hành chính phức tạp kéo theo. Với các góp ý và đề xuất thuyết phục của VASEP và một số ngành hàng, Chính phủ đã sửa đổi Luật Thuế XK, thuế nhập khẩu và đã được Quốc hội thông qua năm 2016 với sự điều chỉnh đáng kể là miễn thuế cho nguyên vật liệu nhập khẩu để SXXK và GCXK – tạo tiền đề lớn cho việc hội nhập và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành, của quốc gia.
Nghị quyết 19/2017, nghị quyết 19/2018 hay mới đây là Nghị quyết 02/2019 của Chính phủ đã cho thấy những nỗ lực có trọng tâm của Chính phủ trong cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao lực cạnh tranh của ngành, của quốc gia. Một trong những nội dung xuyên suốt là sửa đổi các quy định, các thủ tục hành chính chưa phù hợp để hỗ trợ tối đa cho mục tiêu phát triển. Yêu cầu thống nhất và sửa đổi Thông tư 26/2016/TT-BNNPTNT về kiểm dịch thủy sản nhập khẩu theo nguyên tắc quản lý rủi ro, giảm bớt kiểm tra đã được ghi rõ trong các Nghị quyết.
Thông tư 36/2018/TT-BNNPTNT của Bộ NNPTNT về kiểm dịch thủy sản nhập khẩu sửa đổi, bổ sung một số điều của TT26/2016 kể trên trong bối cảnh Bộ NNPTNT không chỉ phải thực hiện đồng thời 3 luật hiện hành liên quan; Luật ATTP, Luật Thú y và Luật Thủy sản 2017. Nhiều nội dung đã được sửa đổi cho phù hợp hơn, hỗ trợ hơn cho mục tiêu phát triển. Tuy nhiên, trước bối cảnh của hội nhập và thực tiễn đặt ra, cộng đồng DN vẫn đề xuất & kiến nghị với Bộ NNPTNT đánh giá xem xét thêm để một số quy định trong Thông tư 36/2018 tiếp tục được xem xét, sửa đổi - tạo thêm lợi thế cho một ngành hàng hay rộng hơn là lợi ích quốc gia.
Như một văn bản góp ý mà VASEP tổng hợp ý kiến từ cộng đồng DN (CV 155/2018/CV-VASEP ký ngày 13/11/2018 gửi Cục Thú y góp ý dự thảo sửa đổi TT26/2016), đã phân tích và đề xuất: nội dung thực hiện kiểm soát ATTP; phân biệt nhập khẩu để tiêu dùng trực tiếp với NK nguyên liệu để chế biến tiếp; Danh mục kiểm còn rộng; danh mục miễn kiểm còn chưa rõ; nguyên tắc quản lý rủi ro, phân luồng chưa triệt để; cách thức kiểm tra cảm quan; danh mục hồ sơ đặc thù cho 5-6 dòng nguyên liệu nhập khẩu khác nhau hay yêu cầu có giấy xác nhận của CQTQ nước có cảng trung chuyển….
Việc cải thiện tình hình sản xuất nguyên liệu theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng không phải là công việc có thể giải quyết trong một thời gian ngắn, do vậy, việc NK nguyên liệu để SXXK và GCXK cần được đánh giá như một đề án để khắc phục những khó khăn về nguồn cung thủy sản, thúc đẩy tăng trưởng XK thủy sản, đem lại lợi ích cho người lao động, ngành thủy sản và lợi ích quốc gia.
Với công nghệ chế biến tốt, công suất lớn và lực lượng lao động có tay nghề cao, chúng ta nên tạo điều kiện khích lệ cho các DN tận dụng hiệu quả nguồn nguyên liệu trong nước và linh hoạt trong việc sử dụng nguồn NK SXXK và GCXK.
Trương Đình Hòe
Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP)
Ngày 06 tháng 4 năm 2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 631/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiên phong giai đoạn 2026-2030. Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Quyết định nêu trên, Bộ Tài chính đã xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện Chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiên phong giai đoạn 2026-2030
(vasep.com.vn) Một chính sách thuế mới tại bang São Paulo đang tạo ra những tác động đáng chú ý đối với thị trường thủy sản Brazil. Theo sắc lệnh được ký ban hành tuần trước, mức thuế ICMS 7% áp dụng cho cá rô phi nhập khẩu đã đồng thời mở rộng sang toàn bộ các mặt hàng thủy sản nhập khẩu như cá hồi, cá tuyết, cá minh thái, cá hake, cá tra và nhiều loài cá biển khác vốn trước đây được miễn thuế.
(vasep.com.vn) Ngày 16/6, Nghị viện châu Âu (EP) đã chính thức thông qua thỏa thuận thuế quan với Mỹ, đánh dấu bước cuối cùng để văn kiện có hiệu lực sau khi được các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) phê chuẩn.
(vasep.com.vn) Giá trứng cá minh thái (pollock roe) đông lạnh của Nga trong các phiên đấu giá tại Busan (Hàn Quốc) đã duy trì ổn định trong suốt mùa giao dịch năm nay, bất chấp xu hướng thường giảm vào giai đoạn cuối vụ như những năm trước.
(vasep.com.vn) Thị trường surimi cá minh thái Alaska đang bước vào giai đoạn nguồn cung thắt chặt khi sản lượng chế biến không theo kịp nhu cầu toàn cầu. Theo phân tích của Tridge, chi phí, chất lượng và rủi ro của sản phẩm surimi không được quyết định ở khâu phân phối cuối cùng mà được “khóa chặt” từ rất sớm trong chuỗi cung ứng, từ khai thác nguyên liệu đến chế biến và logistics lạnh.
VASEP trân trọng chào đón Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Thủy hải sản Tính Thúy Tỷ trở thành hội viên chính thức và Công ty TNHH Thủy sản Khải Linh trở thành hội viên liên kết của VASEP. Xin chúc mừng và chúc các Quý doanh nghiệp phát triển bền vững, đồng hành cùng Hiệp hội trong các hoạt động liên kết và nâng tầm thương hiệu thủy sản Việt Nam.
(vasep.com.vn) Giá mực khổng lồ (jumbo squid) tại các cảng chế biến trọng điểm của tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, đã tăng lũy kế 4,2% trong thời gian gần đây do tình trạng chậm thông quan và siết chặt kiểm tra vệ sinh tại các cửa khẩu nhập khẩu.
(vasep.com.vn) Trong tuần 8–12/6/2026, giá cá rô phi (Oreochromis niloticus) tại các vùng sản xuất chính của Brazil nhìn chung ổn định nhưng có xu hướng giảm nhẹ ở hầu hết khu vực, theo khảo sát mới nhất của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Ứng dụng (Cepea).
(vasep.com.vn) Hội đồng Quản lý Nuôi trồng Thủy sản (ASC) vừa gửi thư phản hồi dài 12 trang tới các thượng nghị sĩ Mỹ liên quan đến cuộc điều tra về tôm nhập khẩu, trong đó khẳng định không có sản phẩm mang nhãn ASC nào liên quan đến các lô tôm Indonesia bị thu hồi do phát hiện đồng vị phóng xạ Cesium-137 (Cs-137).
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn