Theo báo cáo mới của CBI, bản thân sản phẩm cá tra cũng đang cạnh tranh ngược lại với sản phẩm cá rô phi, cá minh thái Alaska pollock tại một số thị trường trọng điểm. Sự thay thế sản phẩm cá tra trong một số phân khúc thị trường đang diễn ra trên khắp Châu Âu với mức độ khác nhau. Ở góc độ ngược lại, tại Đức và Ba Lan, cá Alaska pollock chính là đối thủ cạnh tranh chính của cá tra; trong khi tại thị trường Anh lại lựa chọn các sản phẩm cá haddock và cá cod kèm theo thực đơn của các sản phẩm truyền thống khác và khoai tây chiên. Còn tại các quốc gia Nam Âu, sản phẩm cá hake, cá Alaska pollock, và một số sản phẩm cá thịt trắng khác đang cạnh tranh với cá tra.
Theo thống kê của ITC, 10 tháng đầu năm nay, NK cá thịt trắng của Anh tăng 9,09%, Tây Ban Nha tăng 13,1%, Đức tăng 6,06%, Pháp tăng 7%, Ba Lan tăng gần 16% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, thị phần cá thịt trắng như: cá Alaska pollock (HS 030475); cá Cod (HS 030471); cá Cod (HS 030363; HS 030251); cá hake (HS 030366)... đang chiếm tỷ trọng lớn trong tổng NK cá thịt trắng của khu vực này.
Mặc dù vậy, một điều không thể phủ nhận rằng, cá tra Việt Nam vẫn đang tiếp tục len lỏi vào thị phần của nhiều quốc gia tại Châu Âu.
Phần lớn các thị trường này NK cá tra để tiêu thụ trong nước, ngoài ra, nhiều nhà NK cũng tái xuất cá tra sang một số thị trường láng giềng trong khu vực. Theo CBI, Đức và Ba Lan là những nhà cung cấp cho các quốc gia Trung và Đông Âu, nơi không có cảng nhập lớn. Theo thống kê, năm 2017, 45 triệu EUR cá tra phile đông lạnh được tái xuất trong nội khối EU. Các nước tái xuất chính cá tra năm 2017 là Hà Lan (31 triệu EUR), Bỉ (14 triệu EUR) và Đức (8 triệu EUR).
Hiện nay, hầu hết EU được nhập khẩu cá tra dưới dạng philê đông lạnh, và giá trị gia tăng được thực hiện bởi các công ty chế biến ở châu Âu. Người tiêu dùng đang ngày càng lựa chọn nhiều lựa chọn thực phẩm tự nhiên hơn, là những sản phẩm ít hoặc không có chất phụ gia chế biến, hàm lượng mạ băng thấp. Họ cũng sẵn lòng trả giá cao hơn cho các sản phẩm chất lượng cao hơn.
|
Nhập khẩu cá thịt trắng của 20 thị trường lớn nhất EU (Nghìn USD) |
|||||||
|
STT |
Thị trường |
Q1 |
Q2 |
Q3 |
Q1-3/2017 |
Q1-3/2018 |
↑↓% |
|
1 |
Anh |
244.958 |
249.144 |
214.488 |
649.554 |
708.590 |
9,09 |
|
2 |
Tây Ban Nha |
221.704 |
214.082 |
212.061 |
572.776 |
647.847 |
13,11 |
|
3 |
Hà Lan |
199.295 |
204.479 |
199.622 |
622.119 |
603.396 |
-3,01 |
|
4 |
Đức |
180.459 |
173.374 |
176.295 |
499.825 |
530.128 |
6,06 |
|
5 |
Pháp |
163.193 |
163.258 |
134.124 |
430.391 |
460.575 |
7,01 |
|
6 |
Ba Lan |
119.583 |
96.679 |
91.674 |
265.640 |
307.936 |
15,92 |
|
7 |
Bồ Đào Nha |
92.618 |
144.681 |
85.036 |
266.989 |
322.335 |
20,73 |
|
8 |
Đan Mạch |
113.577 |
95.082 |
74.539 |
262.413 |
283.198 |
7,92 |
|
9 |
Italy |
69.911 |
72.901 |
64.675 |
192.253 |
207.487 |
7,92 |
|
10 |
Thụy Điển |
116.242 |
70.613 |
47.090 |
217.760 |
233.945 |
7,43 |
|
11 |
Lithuania |
20.914 |
21.913 |
22.191 |
66.957 |
65.018 |
-2,90 |
|
12 |
Bỉ |
27.230 |
27.595 |
21.727 |
77.437 |
76.552 |
-1,14 |
|
13 |
Latvia |
10.201 |
9.261 |
7.955 |
15.306 |
27.417 |
79,13 |
|
14 |
CH Czech |
12.609 |
5.393 |
7.542 |
20.588 |
25.544 |
24,07 |
|
15 |
Hungary |
4.621 |
3.909 |
5.204 |
11.855 |
13.734 |
15,85 |
|
16 |
Áo |
6.626 |
5.043 |
5.118 |
14.467 |
16.787 |
16,04 |
|
17 |
Hy Lạp |
7.453 |
5.689 |
4.992 |
20.027 |
18.134 |
-9,45 |
|
18 |
Slovakia |
4.025 |
3.696 |
4.432 |
10.692 |
12.153 |
13,66 |
|
19 |
Romania |
4.543 |
3.442 |
4.341 |
11.457 |
12.326 |
7,58 |
|
20 |
Estonia |
1.610 |
2.973 |
3.020 |
4.817 |
7.603 |
57,84 |
|
EU (27) |
1.634.552 |
1.587.221 |
1.400.952 |
4.273.065 |
4.622.725 |
8,18 |
|
|
Nguồn: ITC |
|||||||
|
Nhập khẩu cá tra của 10 thị trường nhập khẩu lớn nhất EU (Nghìn USD) |
||||||||||||
|
STT |
Thị trường |
T1 |
T2 |
T3 |
T4 |
T5 |
T6 |
T7 |
T8 |
T9 |
T10 |
T1-10/2018 |
|
1 |
Anh |
2.785 |
3.012 |
3.254 |
4.260 |
3.561 |
2.982 |
5.137 |
4.632 |
3.776 |
4.656 |
38.055 |
|
2 |
Bỉ |
1.592 |
1.473 |
1.251 |
1.999 |
1.770 |
1.824 |
1.716 |
1.950 |
1.292 |
- |
14.867 |
|
3 |
Pháp |
1.255 |
1.209 |
988 |
1.130 |
1.317 |
1.354 |
1.486 |
1.599 |
894 |
1.431 |
12.663 |
|
4 |
Bồ Đào Nha |
1.553 |
942 |
409 |
753 |
977 |
886 |
1.099 |
1.003 |
1.695 |
781 |
10.098 |
|
5 |
Hy Lạp |
436 |
484 |
547 |
387 |
843 |
547 |
819 |
577 |
731 |
286 |
5.657 |
|
6 |
Áo |
489 |
695 |
816 |
629 |
555 |
507 |
598 |
581 |
682 |
5.552 |
|
|
7 |
CH Czech |
168 |
100 |
134 |
70 |
201 |
42 |
284 |
265 |
197 |
360 |
1.821 |
|
8 |
Estonia |
94 |
158 |
119 |
130 |
193 |
135 |
34 |
86 |
167 |
83 |
1.199 |
|
9 |
Lithuania |
96 |
105 |
109 |
128 |
92 |
70 |
31 |
37 |
186 |
128 |
982 |
|
10 |
Latvia |
70 |
31 |
47 |
132 |
41 |
20 |
36 |
144 |
24 |
73 |
618 |
|
EU |
22.186 |
20.740 |
20.884 |
25.596 |
27.038 |
24.852 |
28.924 |
29.100 |
22.346 |
7.798 |
229.464 |
|
|
Nguồn: ITC |
||||||||||||
(vasep.com.vn) Đức đang đẩy mạnh chiến lược phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng công nghệ cao và bền vững nhằm giảm phụ thuộc vào nhập khẩu thủy sản, đồng thời tăng khả năng tự chủ nguồn cung thực phẩm. Hiện nay, sản lượng nuôi trồng thủy sản nội địa của Đức chỉ đáp ứng chưa đến 3% nhu cầu tiêu thụ cá trong nước, khiến quốc gia này phụ thuộc lớn vào nguồn cung nhập khẩu.
(vasep.com.vn) Sản lượng bột cá và dầu cá toàn cầu trong quý I/2026 đồng loạt giảm mạnh so với cùng kỳ năm ngoái do nguồn cung nguyên liệu suy yếu và hoạt động khai thác bị siết chặt tại nhiều khu vực sản xuất chủ lực.
(vasep.com.vn) Ngành cá tuyết Na Uy đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung nghiêm trọng, khiến sản lượng xuất khẩu giảm xuống mức thấp nhất trong 17 năm, trong khi giá bán tăng mạnh trên toàn thị trường.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu tôm Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 tiếp tục giữ được đà tăng trưởng dương với kim ngạch đạt khoảng 1,5 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, đằng sau kết quả này là xu hướng trái chiều giữa các thị trường giữa các thị trường, trong bối cảnh ngành tôm toàn cầu vẫn chịu tác động từ lạm phát, tồn kho cao, cạnh tranh giá và rủi ro thương mại gia tăng.
(vasep.com.vn) Một cuộc khảo sát do Điều phối Hỗ trợ Kỹ thuật Tích hợp (CATI) thực hiện đã ghi nhận 1.462 cơ sở nuôi trồng thủy sản phân bố tại 371 thành phố thuộc bang São Paulo, Brazil.
(vasep.com.vn) Theo Liên đoàn Thủy sản Myanmar, các sản phẩm thủy sản của nước này hiện được xuất khẩu tới 42 quốc gia, trong đó hải sản chiếm 70% và sản phẩm thủy sản nước ngọt chiếm 30% tổng kim ngạch xuất khẩu.
(vasep.com.vn) Sản lượng khai thác hải sản của Nga trong bốn tháng đầu năm 2026 tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm ngoái, trong bối cảnh nguồn cung cá thịt trắng như cá minh thái và cá tuyết tại khu vực Viễn Đông suy giảm, kéo theo giá nguyên liệu trên thị trường nội địa tăng mạnh.
(vasep.com.vn) Doanh nghiệp ExportGaGroup có trụ sở tại thành phố Guayaquil (Ecuador) đang đẩy mạnh mở rộng thị trường xuất khẩu tôm chân trắng Ecuador thông qua các thương hiệu riêng, sau hơn 20 năm hoạt động trong lĩnh vực nuôi tôm.
(vasep.com.vn) Hội đồng Quản lý Nuôi trồng Thủy sản (ASC) vừa xác nhận Venezuela đã có hai nhà máy thức ăn thủy sản đầu tiên đạt chứng nhận theo chương trình ASC Feed Certification, đánh dấu bước tiến mới của ngành thức ăn thủy sản bền vững tại khu vực Mỹ Latinh.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn