Định mức tiêu hao năng lượng (ĐM THNL) áp dụng cho quá trình chế biến công nghiệp sản phẩm cá da trơn là 1.050kWh/tấn sản phẩm cá tương đương và 2.050 kWh/tấn sản phẩm tôm tương đương giai đoạn đến hết năm 2025; ĐM THNL áp dụng cho quá trình chế biến công nghiệp sản phẩm cá da trơn là 900 kWh/tấn cá tương đương và 1.625 kWh/tấn tôm tương đương giai đoạn từ năm 2026 đến hết năm 2030. Trong trường hợp Cơ sở chế biến thủy sản có suất tiêu hao năng lượng cao hơn ĐM THNL, Cơ sở đó sẽ phải lập và thực hiện Kế hoạch Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng để đảm bảo ĐM THNL như trên. Thông tư 52/2018/TT-BCT áp dụng với các Cơ sở chế biến cá da trơn và tôm có quy mô từ 300 tấn sản phẩm/năm trở lên và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Một số Nhóm giải pháp Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong chế biến
Theo hướng dẫn của Thông tư 52/2018/TT-BCT, Xây dựng hệ thống quản lý năng lượng trong cơ sở chế biến thủy sản và thực hiện nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong quản lý năng lượng; Thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả năng lượng có mức đầu tư thấp (thay thế các thiết bị đơn lẻ có hiệu suất năng lượng cao hơn);Thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả năng lượng có mức đầu tư cao (thay thế một, vài cụm thiết bị có hiệu suất năng lượng cao hơn hoặc thay đổi công nghệ để cải thiện hiệu suất năng lượng). Đồng thời, khuyến khích Cơ sở chế biến thủy sản áp dụng các Nhóm giải pháp cải thiện, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong chế biến như sau:
Nhóm giải pháp hoàn thiện quy trình sản xuất, quản lý sử dụng năng lượng: (1)Hạn chế các băng chuyền IQF chạy không tải, non tải. Trong trường hợp phải chạy non tải cần có giải pháp điều chỉnh năng suất hệ thống lạnh; (2)Sử dụng hợp lý các thiết bị cấp đông; (3)Quản lý chặt chẽ việc sản xuất và sử dụng nước đá; (4)Quản lý việc sử dụng kho lạnh, đóng cửa kho khi không có người hay xe đi qua; (5)Duy trì nhiệt độ kho lạnh ở mức cần thiết; (6)Quản lý chặt chẽ việc sử dụng hệ thống điều hòa nhiệt độ; (7)Thay đổi cách thức sử dụng thiết bị phù hợp khi công suất chế biến thấp.
Nhóm giải pháp hoàn thiện qui trình vận hành thiết bị lạnh: (1)Không để các máy nén chạy non tải; (2)Không vận hành kho lạnh, đá vẩy với thiết bị cấp đông trên cùng 1 nhiệt độ sôi; (3)Duy trì áp suất hút ở mức hợp lý; (4)Xả tuyết kho lạnh đúng quy trình, không để tuyết bám nhiều trên dàn lạnh.
Nhóm giải pháp sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị lạnh: (1)Kiểm tra, khắc phục việc suy giảm công suất của các băng chuyền IQF; (2)Xác định công suất lạnh máy nén trục vít đã chạy lâu năm; (3)Lập hồ sơ theo dõi cho từng máy nén trục vít; (4)Kiểm tra, sửa chữa kịp thời các thiết bị hỏng hóc hoặc bị xuống cấp; (5)Thường xuyên kiểm tra, xử lý hiện tượng bám cáu cặn trên dàn ngưng.
Nhóm giải pháp thiết kế, lắp đặt lại hệ thống lạnh: (1)Thiết kế hệ thống lạnh trung tâm sử dụng môi chất NH3 thay thế các thiết bị đơn lẻ; (2)Thiết kế lại hệ thống lạnh để đảm bảo máy nén không vận hành non tải và ở nhiệt độ sôi thấp; (3)Qui hoạch lại các kho lạnh, hệ thống điều hòa nhiệt độ; (4)Cấp nước lạnh vào máy chế biến đá vẩy; (5)Cấp NH3 lỏng từ bình hạ áp kho lạnh vào bình hạ áp của băng chuyền IQF; (6)Chuyển đổi một số thiết bị lạnh sử dụng môi chất R22 sang NH3; (7)Thay máy nén có hiệu suất phát lạnh thấp bằng máy nén có hiệu suất phát lạnh cao hơn; (8)Lắp đặt hầm đông lạnh để cấp đông cá nguyên con; (9)Kiểm soát áp suất ngưng trôi nổi; (10)Lắp biến tần cho máy nén trong trường hợp cần thiết.
Nhóm giải pháp sử dụng thiết bị ngoại vi nâng hiệu suất phát lạnh: (1)Lắp thêm áp kế chân không cho các hệ thống cấp đông để theo dõi áp suất hút; (2)Lắp cảm biến CO2 và quạt thu hồi nhiệt cho các phòng chế biến để tăng hiệu suất phát lạnh và giảm lượng điện tiêu thụ cho hệ thống điều hòa nhiệt độ; (3)Lắp thêm van điện từ xả khí không ngưng lần lượt từng dàn ngưng nhằm giảm áp suất ngưng, giảm lượng điện tiêu thụ của máy nén; (4)Lắp thêm thiết bị tách khí, tách nước cho hệ thống lạnh.
Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững
Mục đích của việc ban hành các quy định về Định mức tiêu hao năng lượng cũng như giới thiệu, hướng dẫn các Nhóm giải pháp Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng là để định hướng cho các Cơ sở chế biến cá da trơn và tôm của Việt Nam hướng đến mục tiêu “Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững”. Theo quy định của Thông tư 52/2018/TT-BCT, trong vòng 6 tháng kể từ ngày Thông tư có hiệu lực, những Cơ sở chế biến thủy sản chưa xác định được ĐM THNL (theo quy định của Thông tư) có trách nhiệm lắp đặt đầy đủ đồng hồ đo đếm năng lượng để đảm bảo tính toán chính xác Suất tiêu hao năng lượng của Cơ sở.
Đây được đánh giá là một nội dung mới và rất quan trọng đối với các doanh nghiệp thủy sản. Để giúp các Cơ sở chế biến công nghiệp sản phẩm cá da trơn và tôm (có quy mô từ 300 tấn sản phẩm/năm trở lên) có thể quản lý hiệu quả năng lượng tại Cơ sở cũng như thực hiện tốt các quy định của Thông tư 52, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) sẽ tổ chức Chương trình tập huấn “Xác định Suất tiêu hao năng lượng và Sử dụng hiệu quả năng lượng tại Nhà máy chế biến cá da trơn và tôm” (dự kiến tổ chức vào ngày 27/3/2019 tại Cần Thơ).
Với sự nỗ lực của các Bộ ngành và các cơ quan, tổ chức có liên quan, ngành công nghiệp chế biến cá da trơn và tôm của Việt Nam hy vọng sẽ nhanh chóng nắm bắt và thực hiện tốt các quy định của Thông tư 52, sớm đạt được mục tiêu “Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững” (trong hai giai đoạn: từ nay đến hết năm 2025 và từ năm 2026 đến hết năm 2030).
Thông tư số 52/2018/TT-BCT có hiệu lực từ ngày 18/02/2019.
Tiếp nối các biện pháp thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và giảm tác động môi trường, Liên minh châu Âu (EU) đã ban hành Quy định (EU) 2025/40 về bao bì và rác thải bao bì (Packaging and Packaging Waste Regulation - PPWR). Quy định này thay thế Chỉ thị 94/62/EC trước đây, nhằm mục đích hài hòa hóa các quy định quốc gia, giảm thiểu rào cản thương mại nội khối, đồng thời bảo vệ môi trường và sức khỏe con người thông qua việc giảm thiểu bao bì thừa, thúc đẩy tái sử dụng, tái chế và giảm sử dụng vật liệu nguyên sinh.
(vasep.com.vn) Trước yêu cầu ngày càng khắt khe từ các thị trường quốc tế, doanh nghiệp thủy sản tại An Giang đang tăng tốc chuyển đổi xanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng xuất khẩu. Các doanh nghiệp tập trung cải thiện chất lượng sản phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon và sản xuất bền vững.
(vasep.com.vn) Theo số liệu của Shrimp Insights, trong tuần 12 (16-22/3/2026), giá tôm thẻ chân trắng nguyên liệu tại các quốc gia sản xuất chính nhìn chung ổn định đến giảm nhẹ so với tuần 10, trong đó Việt Nam ghi nhận mức giảm rõ hơn so với các nguồn cung cạnh tranh.
(vasep.com.vn) Tuần 12/2026 (16–22/3), thị trường tôm nuôi châu Á ghi nhận tín hiệu phục hồi tại một số quốc gia nhờ tác động từ không khí giao dịch của Hội chợ Thủy sản Bắc Mỹ, trong khi giá tôm Trung Quốc và Việt Nam vẫn đối mặt xu hướng giảm.
(vasep.com.vn) Nga và Ấn Độ đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 100 tỷ USD vào năm 2030, trong đó ngành thủy sản được xem là một trong những lĩnh vực có tiềm năng thúc đẩy hợp tác giữa hai nền kinh tế. Trong cuộc gặp gần đây, Bộ trưởng Phát triển Kinh tế Nga Maxim Reshetnikov và Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ Piyush Goyal đã thảo luận các giải pháp nhằm mở rộng và đa dạng hóa thương mại song phương, đồng thời tháo gỡ các rào cản thương mại. Một trong những nội dung được hai bên quan tâm là việc thúc đẩy đàm phán hiệp định thương mại tự do nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho trao đổi hàng hóa.
(vasep.com.vn) Mùa khai thác mực Argentina (Illex argentinus) năm 2026 được dự báo bội thu, nhưng hạn chế về hậu cần đang gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu tại Mar del Plata, cảng thủy sản lớn của Argentina.
Ngày 20/3/2026, Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 141/TB-VPCP về kết luận của Thường trực Chính phủ liên quan đến việc xử lý các vướng mắc, bất cập của Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP về an toàn thực phẩm.
(vasep.com.vn) Nhu cầu bột cá toàn cầu tiếp tục tăng cùng với sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản, song sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn nguyên liệu này đang đặt ra nhiều thách thức về chi phí, tính bền vững và an ninh nguồn cung. Trong bối cảnh đó, các giải pháp thay thế như đạm động vật sinh học từ phụ phẩm đang được xem là hướng đi tiềm năng cho ngành thức ăn thủy sản Việt Nam.
(vasep.com.vn) Xung đột tại Iran đang khiến eo biển Hormuz – một trong những tuyến hàng hải quan trọng nhất thế giới – trở thành điểm nghẽn logistics mới, ảnh hưởng đáng kể đến vận tải container toàn cầu. Dù chỉ khoảng 1,4% công suất đội tàu container thế giới bị “đóng băng”, nhưng nếu tính cả các tuyến dịch vụ và vòng quay tàu liên quan đến khu vực Vịnh Ba Tư, tác động thực tế có thể lan tới hơn 10% hệ thống vận tải container toàn cầu.
(vasep.com.vn) Nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm thực phẩm giá hợp lý và giàu dinh dưỡng đang thúc đẩy thị trường surimi toàn cầu mở rộng nhanh trong những năm tới. Theo báo cáo của Fortune Business Insights, quy mô thị trường surimi được ước tính đạt khoảng 4,57 tỷ USD vào năm 2025, tăng lên 4,85 tỷ USD vào năm 2026 và dự kiến đạt 7,83 tỷ USD vào năm 2034, tương ứng với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) khoảng 6,18% trong giai đoạn dự báo.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn