Lần đầu tiên giải mã được hệ gene của cá tra

Nguyên liệu 07:52 17/01/2019
Các nhà khoa học tại Viện Khoa học và Công nghệ Đại học Okinawa (OIST) đã hợp tác với các nhà nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam giải mã toàn bộ hệ gene của cá tra.

Theo công bố kết quả nghiên cứu trên BMC Genomics ngày 5 tháng 10 năm 2018, họ đã xác định được bản phác thảo hệ gene cá tra, có thể là chìa khóa trong di truyền và chọn giống cá tra.

Trong thông cáo báo chí của Viện KH&CN Okinawa, TS. Eiichi Shoguchi, Trưởng nhóm nghiên cứu thuộc Đơn vị Hệ gene sinh vật biển của Viện và là đồng tác giả của nghiên cứu cho rằng “Dữ liệu hệ gene này có thể giúp kiểm tra sự đa dạng sinh học hiện nay trong quần thể cá tra”. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng với Việt Nam – quốc gia cung cấp 50% sản lượng cá tra trên toàn cầu. Hơn nữa, theo TS. Kim Thị Phương Oanh, Trưởng phòng Hệ gene học môi trường (Viện Nghiên cứu hệ gene, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), đồng tác giả của nghiên cứu, cá tra lại là loài đặc hữu ở vùng sông Mekong nên “Việt Nam cần là nước đi đầu trong nghiên cứu hệ gene cá tra”.

Ảnh: sciencedaily

Từ nghiên cứu cơ bản về hệ gene sẽ mở ra khả năng cho các nghiên cứu ứng dụng, trong đó có việc phát triển các chỉ thị phân tử liên quan đến tính trạng quan tâm như tính trạng tăng trưởng, sức sinh sản và kháng bệnh.

Nắm bắt cơ hội hợp tác với chuyên gia nước ngoài

TS. Kim Thị Phương Oanh đã thực hiện đề tài “Phân tích hệ gene biểu hiện (exome + transcriptome) của cá tra từ năm 2014, nhằm phát triển chỉ thị phân tử phục vụ chọn giống cá tra theo hướng tăng trưởng” (Chương trình công nghệ sinh học nông nghiệp và thủy sản). “Exome là tập hợp những đoạn exon- đoạn mã hóa protein- trong genome, nên nếu không giải mã genome thì không nói được gì cả”, chị Oanh cho biết.

Tuy nhiên, do kinh phí đề tài có hạn, lại chủ yếu tập trung cho mục tiêu phân tích transcriptome nhằm phát triển chỉ thị phân tử SNP, nên “ban đầu chị định giải mã hệ gene với độ bao phủ (sequence coverage) rất thấp, khoảng 20X”. Trong quá trình thực hiện dự án, TS. Oanh đã đề xuất việc hợp tác nghiên cứu với nhóm nghiên cứu của Giáo sư Noriyuki Satoh, Viện KH&CN Okinawa, Nhật Bản. Khi đó, “Thầy Noriyuki Satoh đã thẳng thắn góp ý là giải mã với độ bao phủ này chẳng có ý nghĩa gì cả. Với một bộ dữ liệu sơ sài, sau này nếu muốn có hệ gene tham chiếu vẫn cứ phải làm lại từ đầu”, TS. Oanh cho biết.

Được sự tư vấn và hỗ trợ của nhóm nghiên cứu Nhật Bản, TS. Oanh đã quyết định giải mã toàn bộ hệ gene cá tra với mục tiêu “có một bộ gene hoàn chỉnh, chất lượng cao dùng để tham chiếu và làm nền tảng cho các định hướng nghiên cứu cơ bản và ứng dụng sau này”. Tuy nhiên, để làm được phải vượt qua hai khó khăn chính: thứ nhất là về kinh phí, việc giải mã và chú giải chi tiết hệ gene cá tra là hướng nghiên cứu “bất ngờ” vượt quá dự toán kinh phí của đề tài; thứ hai là thiếu chuyên gia có kinh nghiệm về tin sinh học bởi việc giải mã mới hệ gene của loài chưa có hệ gene tham chiếu, gọi là De novo sequencing, cần nhiều chuyên gia xử lý dữ liệu.

Để hỗ trợ các nhà nghiên cứu Việt Nam, nhóm nghiên cứu Nhật Bản do Giáo sư Noriyuki Satoh đứng đầu đã cam kết “sẽ hỗ trợ nhóm Việt Nam để giải mã hoàn thiện hệ gene cá tra”. Với hệ thống cơ sở vật chất và kinh nghiệm thực hiện nhiều dự án giải mã hệ gene sinh vật biển, nhóm nghiên cứu ở Viện KH&CN Okinawa không chỉ hỗ trợ về mặt kinh phí (gồm sử dụng hóa chất, máy móc, trang thiết bị,...) mà còn hướng dẫn cả về mặt chuyên môn, kỹ thuật. Chị Oanh cho biết, “dự án có một thuận lợi lớn là hợp tác được với nhóm nghiên cứu mạnh”.

Tự giải quyết những vấn đề khó

Quá trình giải mã hệ gene cá tra qua nhiều giai đoạn. Ở giai đoạn thứ nhất, mặc dù Viện Nghiên cứu hệ gene thời điểm đó mới được trang bị máy giải trình tự gen thế hệ mới (Illumina NextSeq 500), nhưng với mục đích giải mã chi tiết toàn bộ hệ gene với độ bao phủ cao thì cần thiết phải sử dụng hệ thống máy giải trình tự thế hệ mới công suất cao hơn. Do vậy, chị Oanh và các thành viên quyết định đem các mẫu sang Nhật để thực hiện (cụ thể, trong nghiên cứu này sử dụng Illumina HiSeq 2500) và được nhóm nghiên cứu của GS. Noriyuki Satoh hỗ trợ kinh phí giải mã. “Trong 3 năm thực hiện dự án, giai đoạn này chỉ mất tổng thời gian khoảng vài tháng, nhưng trải ra nhiều thời điểm khác nhau do vừa phân tích vừa bổ sung dữ liệu thực nghiệm”, TS. Oanh cho biết.

Sang tới giai đoạn tiếp theo - lắp ráp hệ gene, đây là công việc đòi hỏi có hệ thống máy tính mạnh, bao gồm cả năng lực tính toán cũng như năng lực lưu giữ dữ liệu. Nhờ có sự hợp tác, mà nhóm nghiên cứu được cung cấp tài khoản để sử dụng hệ thống máy tính hiệu năng cao của Viện KH&CN Okinawa, lớn hơn gấp nhiều lần so với hệ thống hiện có ở Viện Nghiên cứu hệ gene. Điều này, giúp cho việc lắp ráp hệ gene trở nên dễ dàng hơn.

Dù nhận được sự hỗ trợ rất lớn của bên Nhật, nhưng TS. Oanh và cả nhóm vẫn luôn chủ động trong các công đoạn: “Mình và các thành viên trong nhóm cũng trực tiếp sang Nhật, ở lại đó hàng tháng trời để học cách làm và thực hiện các thí nghiệm”.

Sau khi lắp ráp hoàn chỉnh, toàn bộ dữ liệu được đem về Việt Nam để thực hiện công đoạn cuối cùng là dự đoán gene và chú giải hệ gene. Để xây dựng được mô hình gene, các nhà nghiên cứu sẽ kết hợp sử dụng phương pháp học máy (ab innitio) và sử dụng dữ liệu transcriptome (RNA-seq), đồng thời dựa trên dữ liệu hệ gene đã biết của các loài cá khác. Để có được dữ liệu transcriptome đầy đủ nhất, nhóm nghiên cứu đã giải mã và phân tích transcriptome của 9 loại mô cơ quan và 11 giai đoạn phát triển của phôi.

Một trong những khó khăn lớn nhất của nhóm nghiên cứu là thiếu chuyên gia tin sinh và kinh nghiệm phân tích. Chị Oanh kể lại: “Mình chưa quen nên mất rất nhiều thời gian để nghiên cứu các thuật toán, các phần mềm. Nhiều khi mất rất nhiều thời gian để chạy một chương trình, nhưng vẫn không cho ra kết quả mong muốn, sau đó phải chạy lại từ đầu. Quá trình ấy cứ lặp đi lặp lại hàng tháng trời”. Để góp phần giải quyết vấn đề, TS. Oanh và nhóm nghiên cứu ở Viện Nghiên cứu hệ gene vẫn luôn tự tìm hiểu từ các nghiên cứu tương tự trên thế giới, đồng thời tham khảo ý kiến tư vấn của những đồng nghiệp cả Nhật và Việt. Chị luôn nghĩ: “Giải mã hệ gene không phải là vấn đề mới trên thế giới. Nhiều nước đã làm được, chúng ta cũng sẽ làm được”.

Sau khi có được dữ liệu hoàn chỉnh về hệ gene cá tra, nhóm nghiên cứu đã tiến hành so sánh với hệ gene của cá ngựa vằn và cá nheo Mỹ. Qua đó có thêm nhiều phát hiện mới, chẳng hạn như so với cá ngựa vằn, cá tra bị thiếu hụt gene liên quan đến sinh tổng hợp hợp chất chống tia tử ngoại, nhưng lại xuất hiện nhiều gene liên quan đến yếu tố tăng trưởng giống insulin hơn. Chị Oanh cho biết: “Việc so sánh không chỉ có ý nghĩa về mặt tiến hóa và đa dạng sinh học, đây còn là cách chúng ta học hỏi từ những nghiên cứu đi trước. Bởi vì cá nheo Mỹ là loài có nhiều điểm tương đồng với cá tra về mặt sinh học (đây cũng là loài có vai trò quan trọng với ngành thủy sản ở Mỹ), đã được các nhà khoa học ở Mỹ nghiên cứu rất kỹ lưỡng. Nên mình có thể dựa vào đó để định hướng, áp dụng trong nghiên cứu con cá của mình”.

Qua đề tài nghiên cứu, cả nhóm đã “học hỏi được rất nhiều và tự tin hơn”, chị Oanh khẳng định, bởi có nhiều vấn đề lần đầu gặp nhưng cả nhóm vẫn chủ động xoay sở tìm cách giải quyết.

Năm tháng sau khi gửi bản thảo đầu tiên, bài báo trên tạp chí BMC Genomics đã được chấp nhận đăng. TS. Oanh và nhóm nghiên cứu rất vui mừng vì họ đã thực hiện được một công trình đặt nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo về gene, đặc biệt là những hướng ứng dụng như phát triển chỉ thị phân tử nhằm phục vụ chọn giống cá tra theo hướng tăng trưởng và kháng bệnh, có thể kết hợp song song với phương pháp di truyền số lượng truyền thống - chọn lọc dựa trên quan sát, đo đạc, thống kê các giá trị kiểu hình của nhiều thế hệ - vốn tốn nhiều thời gian và độ chính xác chỉ ở mức tương đối.

(Theo KH&PT)

TIN MỚI CẬP NHẬT

EU ban hành Quy định về Bao bì và Rác thải bao bì (Regulation (EU) 2025/40) - Rào cản xanh mới mà doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản cần lưu tâm

 |  09:02 23/03/2026

Tiếp nối các biện pháp thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và giảm tác động môi trường, Liên minh châu Âu (EU) đã ban hành Quy định (EU) 2025/40 về bao bì và rác thải bao bì (Packaging and Packaging Waste Regulation - PPWR). Quy định này thay thế Chỉ thị 94/62/EC trước đây, nhằm mục đích hài hòa hóa các quy định quốc gia, giảm thiểu rào cản thương mại nội khối, đồng thời bảo vệ môi trường và sức khỏe con người thông qua việc giảm thiểu bao bì thừa, thúc đẩy tái sử dụng, tái chế và giảm sử dụng vật liệu nguyên sinh.

Doanh nghiệp thủy sản An Giang đẩy mạnh chuyển đổi xanh để mở rộng thị trường

 |  09:00 23/03/2026

(vasep.com.vn) Trước yêu cầu ngày càng khắt khe từ các thị trường quốc tế, doanh nghiệp thủy sản tại An Giang đang tăng tốc chuyển đổi xanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng xuất khẩu. Các doanh nghiệp tập trung cải thiện chất lượng sản phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon và sản xuất bền vững.

Giá tôm thẻ nguyên liệu tuần 12/2026 có xu hướng giảm tại nhiều nước

 |  08:57 23/03/2026

(vasep.com.vn) Theo số liệu của Shrimp Insights, trong tuần 12 (16-22/3/2026), giá tôm thẻ chân trắng nguyên liệu tại các quốc gia sản xuất chính nhìn chung ổn định đến giảm nhẹ so với tuần 10, trong đó Việt Nam ghi nhận mức giảm rõ hơn so với các nguồn cung cạnh tranh.

Giá tôm toàn cầu tuần 12: Giá tôm Ecuador phục hồi, Ấn Độ và Indonesia ổn định

 |  08:54 23/03/2026

(vasep.com.vn) Tuần 12/2026 (16–22/3), thị trường tôm nuôi châu Á ghi nhận tín hiệu phục hồi tại một số quốc gia nhờ tác động từ không khí giao dịch của Hội chợ Thủy sản Bắc Mỹ, trong khi giá tôm Trung Quốc và Việt Nam vẫn đối mặt xu hướng giảm.

Nga kỳ vọng mở rộng xuất khẩu thủy sản sang Ấn Độ

 |  08:49 23/03/2026

(vasep.com.vn) Nga và Ấn Độ đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 100 tỷ USD vào năm 2030, trong đó ngành thủy sản được xem là một trong những lĩnh vực có tiềm năng thúc đẩy hợp tác giữa hai nền kinh tế. Trong cuộc gặp gần đây, Bộ trưởng Phát triển Kinh tế Nga Maxim Reshetnikov và Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ Piyush Goyal đã thảo luận các giải pháp nhằm mở rộng và đa dạng hóa thương mại song phương, đồng thời tháo gỡ các rào cản thương mại. Một trong những nội dung được hai bên quan tâm là việc thúc đẩy đàm phán hiệp định thương mại tự do nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho trao đổi hàng hóa.

Sản lượng mực Argentina tăng mạnh

 |  08:46 23/03/2026

(vasep.com.vn) Mùa khai thác mực Argentina (Illex argentinus) năm 2026 được dự báo bội thu, nhưng hạn chế về hậu cần đang gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu tại Mar del Plata, cảng thủy sản lớn của Argentina.

Kết luận của Thường trực Chính phủ về xử lý các vướng mắc, bất cập của Nghị định số 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP về an toàn thực phẩm

 |  22:12 21/03/2026

Ngày 20/3/2026, Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 141/TB-VPCP về kết luận của Thường trực Chính phủ liên quan đến việc xử lý các vướng mắc, bất cập của Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP về an toàn thực phẩm.

Đạm sinh học từ phụ phẩm mở hướng giảm phụ thuộc bột cá

 |  09:12 20/03/2026

(vasep.com.vn) Nhu cầu bột cá toàn cầu tiếp tục tăng cùng với sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản, song sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn nguyên liệu này đang đặt ra nhiều thách thức về chi phí, tính bền vững và an ninh nguồn cung. Trong bối cảnh đó, các giải pháp thay thế như đạm động vật sinh học từ phụ phẩm đang được xem là hướng đi tiềm năng cho ngành thức ăn thủy sản Việt Nam.

Thủy sản chịu tác động mạnh bởi căng thẳng tại eo biển Hormuz

 |  09:10 20/03/2026

(vasep.com.vn) Xung đột tại Iran đang khiến eo biển Hormuz – một trong những tuyến hàng hải quan trọng nhất thế giới – trở thành điểm nghẽn logistics mới, ảnh hưởng đáng kể đến vận tải container toàn cầu. Dù chỉ khoảng 1,4% công suất đội tàu container thế giới bị “đóng băng”, nhưng nếu tính cả các tuyến dịch vụ và vòng quay tàu liên quan đến khu vực Vịnh Ba Tư, tác động thực tế có thể lan tới hơn 10% hệ thống vận tải container toàn cầu.

Thị trường surimi toàn cầu dự báo tăng trưởng mạnh

 |  09:06 20/03/2026

(vasep.com.vn) Nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm thực phẩm giá hợp lý và giàu dinh dưỡng đang thúc đẩy thị trường surimi toàn cầu mở rộng nhanh trong những năm tới. Theo báo cáo của Fortune Business Insights, quy mô thị trường surimi được ước tính đạt khoảng 4,57 tỷ USD vào năm 2025, tăng lên 4,85 tỷ USD vào năm 2026 và dự kiến đạt 7,83 tỷ USD vào năm 2034, tương ứng với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) khoảng 6,18% trong giai đoạn dự báo.

VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM

Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội

Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO

Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu

Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn

Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh

Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn

VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội

Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn

© Copyright 2020 - Mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận bằng văn bản của VASEP

DANH MỤC