Theo một nghiên cứu khoa học mới được công bố trên tạp chí Nature Ecology & Evolution, những chính sách này làm giảm sản lượng đánh bắt cá và có khả năng bắt đầu phục hồi nghề cá mà không làm tổn hại tới sản lượng đánh bắt hay lợi nhuận của ngư dân địa phương.
Indonesia là nước sản xuất cá ngừ hàng đầu thế giới và là nước sản xuất cá biển lớn thứ hai thế giới, nhưng nước này mất lợi nhuận 4 tỷ USD mỗi năm do đánh bắt IUU.
Chính sách đánh bắt chống IUU của Indonesia bao gồm lệnh cấm tạm thời kéo dài một năm từ năm 2014 đến năm 2015 đối với các tàu có xuất xứ từ nước ngoài đã đăng ký tại Indonesia, dẫn đến hơn 1.100 tàu nước ngoài bị cấm khai thác.
Phần lớn các tàu mà chính quyền Indonesia cấm từ các nước khác. Gần một nửa (144 tàu) đến từ Việt Nam, và 76 tàu khác đến từ Philippines, trong khi 50 tàu đến từ Malaysia. Khi lệnh cấm vận chuyển cá năm 2014 cho tàu nước ngoài có hiệu lực, Indonesia đã được dỡ bỏ lệnh cấm đối với các tàu thuyền địa phương.
Các chính sách mới đã làm giảm mạnh trong đánh bắt cá: đánh bắt cá nước ngoài giảm 90%, trong khi đánh bắt chung giảm 25%.
Theo Ren Cabral, tác giả chính của nghiên cứu và là một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Đại học California, Trường Khoa học Môi trường Bren của Santa Barbara, một số tàu bị giảm khai thác ở vùng biển Indonesia có thể sẽ chuyển sang các khu vực khác, nhưng không phải tất cả.
Các tác giả kỳ vọng rằng một số tàu đánh cá đi nơi khác và họ cũng mong đợi giảm số lượng thuyền đánh cá và các hoạt động khai thác. Khi các tác giả nghiên cứu đến thăm Indonesia, họ đã thấy một số tàu thuyền nước ngoài không hoạt động trong vùng biển của Indonesia, có nghĩa là những chiếc thuyền đó không thể đánh bắt cá vì các chính sách của Indonesia.
Ở nhiều nước đang phát triển ở vùng nhiệt đới, người dân phụ thuộc vào nghề đánh cá cho cả thực phẩm và sinh kế, gây khó khăn cho chính quyền nhằm giảm áp lực đánh bắt cá thông qua cải cách nghề cá.
Nhưng việc giảm mạnh đánh bắt IUU của các tàu nước ngoài có thể làm giảm tổng sản lượng đánh bắt và cho phép các ngư trường phục hồi với chi phí không đáng kể đối với ngư dân địa phương.
Các tác giả nghiên cứu tính toán rằng việc ngăn chặn đánh bắt quá mức ở Indonesia bằng cách sử dụng các cải cách quản lý điển hình sẽ yêu cầu giảm sản lượng khai thác 15%, với mức giảm tương ứng 16% lợi nhuận. Ngược lại, việc cắt giảm đánh bắt IUU có tiềm năng tạo ra lợi ích đáng kể cho ngư dân địa phương, có khả năng tăng sản lượng khai thác 14% và lợi nhuận 12%.
Theo Cabral, các khu kinh tế độc quyền của các quốc gia chiếm khoảng 42% đại dương và có 90% cá được đánh bắt trong các khu kinh tế độc quyền. Những khu trong phạm vi 200 dặm tính từ bờ biển đã được chính thức công nhận vào năm 1982 thông qua Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển và quan trọng đối với việc cải thiện quản lý nghề cá.
Cabral cho biết, họ không có quyền kiểm soát quyền tiếp cận; ngư dân chạy đua với lợi nhuận, dẫn đến thảm kịch của những kẻ lừa đảo.
Để đánh giá tác động của các chính sách của Indonesia, các nhà nghiên cứu đã theo dõi đánh bắt cá bất hợp pháp trong thời gian thực sử dụng dữ liệu tự động (AIS) từ Global Fishing Watch, một nhóm phi lợi nhuận giúp theo dõi đánh bắt cá thương mại.
Juan Mayorga, nhà khoa học dữ liệu hàng hải của Tập đoàn Thủy sản bền vững của UC Santa Barbara cho biết, hiện tại các nhà nghiên cứu có thể đánh giá trực tiếp (như trong chính sách IUU của Indonesia) liệu chính sách đó có đạt được hiệu quả dự định hay không.
Khoảng 20% cá toàn cầu là từ nguồn khai thác bất hợp pháp. Ở một số khu vực, chẳng hạn như phía tây và trung tâm Thái Bình Dương và phía đông trung tâm Đại Tây Dương, đánh bắt cá bất hợp pháp có thể chiếm hơn 30% tổng số đánh bắt.
Giống như Indonesia, các nước trong khu vực này có thể hưởng lợi từ các quy định nghiêm ngặt hơn đối với việc đánh bắt IUU. Ví dụ, Gambia vi phạm đánh bắt cá bất hợp pháp và tham nhũng trong ngành thủy sản vào năm 2015 và đã có thành công tương tự như Indonesia.
Một số quốc gia đã thực hiện từng bước để chống lại đánh bắt cá bất hợp pháp, bằng cách bắt giữ những kẻ vi phạm và áp dụng tiền phạt khổng lồ, nhưng không phải tất cả các nước đều có thể làm như vậy.
(vasep.com.vn) Công ty thủy sản F. Smales & Son, một trong những nhà cung cấp nguyên liệu lớn cho ngành fish & chips tại Anh, ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực trong năm tài chính kết thúc ngày 31/8/2025 nhờ giá cá thịt trắng tăng mạnh, đặc biệt là cá tuyết (cod) và cá haddock.
(vasep.com.vn) Trong bối cảnh ngành nuôi cá rô phi chuyển dần từ mục tiêu tăng sản lượng sang tối ưu hiệu quả và tính bền vững, dinh dưỡng đang được xem là một trong những yếu tố quyết định năng suất và lợi nhuận của người nuôi.
(vasep.com.vn) Ngành nuôi trồng thủy sản toàn cầu đang đối mặt với áp lực ngày càng gia tăng khi nguồn cung bột cá và dầu cá tiếp tục suy giảm, trong bối cảnh biến động khí hậu và cạnh tranh nguyên liệu ngày càng gay gắt.
(vasep.com.vn) Hệ thống quản lý thuế đối với nhập khẩu thủy sản vào Mỹ đang bước vào giai đoạn biến động mạnh, khi các tranh chấp pháp lý về hoàn thuế và nguy cơ áp thuế mới diễn ra song song, tạo áp lực lớn lên chuỗi cung ứng toàn cầu.
(vasep.com.vn) Lực lượng Quốc phòng Australia (ADF) đã tham gia một nỗ lực đa quốc gia gần đây nhằm phát hiện và ngăn chặn hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) trên khắp khu vực Tây Nam Thái Bình Dương.
(vasep.com.vn) Giá các loài cá thịt trắng chủ lực của Iceland tiếp tục tăng trong tuần 23 (từ ngày 1-7/6), nhờ nhu cầu tiêu thụ gia tăng trước kỳ nghỉ Quốc khánh vào ngày 17/6. Xu hướng này tương tự những năm trước khi các nhà hàng và hệ thống bán lẻ đẩy mạnh thu mua để phục vụ thị trường nội địa.
(vasep.com.vn) Nguồn cung bột cá và dầu cá hữu hạn, biến động khí hậu ngày càng gia tăng cùng sự cạnh tranh mạnh mẽ đối với các nguyên liệu biển đang trở thành thách thức cấp bách đối với ngành nuôi trồng thủy sản toàn cầu. Trong bối cảnh sản lượng nuôi trồng dự kiến phải tăng gấp đôi vào năm 2050 để đáp ứng nhu cầu thực phẩm, giới chuyên gia cho rằng đổi mới nguyên liệu thức ăn là yếu tố then chốt bảo đảm tăng trưởng bền vững cho ngành.
(vasep.com.vn) Thị trường cá minh thái Alaska (Gadus chalcogrammus) toàn cầu đang ghi nhận đợt tăng giá mạnh chưa từng có, khi nguồn cung cá kích cỡ lớn suy giảm và dòng thương mại quốc tế tiếp tục tái cấu trúc, đẩy chi phí sản xuất surimi và fillet lên mức cao mới.
(vasep.com.vn) Tại Diễn đàn Kinh tế Quốc tế St. Petersburg (SPIEF), Cơ quan Liên bang Thủy sản Nga cùng nhiều cơ quan và vùng trọng điểm đã ký thỏa thuận chiến lược nhằm thay đổi thói quen tiêu dùng thủy sản trong nước, hướng tới mục tiêu cải thiện sức khỏe cộng đồng và tăng tiêu thụ cá đến năm 2030.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn