Sau một thời gian triển khai thực hiện Nghị định 06/2022/NĐ-CP, việc áp dụng hai thủ tục hành chính về đăng ký, phân bổ và điều chỉnh, bổ sung hạn ngạch các chất được kiểm soát cho thấy vẫn còn một số nội dung cần điều chỉnh để bảo đảm thuận lợi hơn cho cơ quan, doanh nghiệp trong quá trình thực hiện.
Do đó, Nghị định số 83/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị địnhsố 119/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 theo hướng tập trung cắt giảm thời gian thực hiện thủ tục, bao gồm rút ngắn thời gian kiểm tra, xử lý hồ sơ và thông báo kết quả; giảm thành phần hồ sơ phải nộp, đặc biệt đối với các loại giấy tờ có thể tra cứu trực tuyến trên Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Cụ thể, Nghị định 83/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 24 về đăng ký và báo cáo sử dụng các chất được kiểm soát. Trong đó, sửa đổi, bổ sung khoản 3 về hồ sơ đăng ký bao gồm:
a) Đơn đăng ký sử dụng các chất được kiểm soát theo Mẫu số 01 của Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định này: 01 bản chính. (Bỏ yêu cầu về việc tổ chức phải nộp “bản sao Văn bản chứng minh tư cách pháp nhân của tổ chức đăng ký theo quy định pháp luật” do văn bản này có thể tra cứu trên cơ sở dữ liệu chuyên ngành, không cần thiết phải yêu cầu tổ chức nộp bản sao có xác nhận và dấu sao y bản chính về văn bản đó).
|
Các chất làm suy giảm tầng ô-dôn và chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát trong khuôn khổ Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-dôn (gọi tắt là các chất được kiểm soát) là các chất, hợp chất được quy định tại các Phụ lục A, B, C, E và F của Nghị định thư Montreal. Các chất làm suy giảm tầng ô-dôn được kiểm soát bao gồm: Bromochloromethane; Carbon tetrachloride (CTC); Chlorofluorocarbon (CFC); Halon; Hydrobromofluorocarbon (HBFC); Hydrochlorofluorocarbon (HCFC); Methyl bromide; Methyl chloroform. Chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát là các chất Hydrofluorocarbon (HFC). |
b) Văn bản chứng minh tư cách pháp nhân của tổ chức đăng ký theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về đầu tư hoặc pháp luật có liên quan: 01 bản sao có xác nhận và đóng dấu sao y bản chính của tổ chức đăng ký hoặc bản sao điện tử từ sổ gốc hoặc bản sao điện tử được chứng thực từ bản chính, trừ trường hợp thông tin có thể khai thác từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp hoặc cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.
Trường hợp thông tin của tổ chức đăng ký không khai thác được hoặc khai thác được nhưng không đầy đủ, không chính xác từ các cơ sở dữ liệu nêu trên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu tổ chức bổ sung bản sao có xác nhận và đóng dấu sao y bản chính của tổ chức đăng ký hoặc bản sao điện tử từ sổ gốc hoặc bản sao điện tử được chứng thực từ bản chính của văn bản quy định tại điểm này.
Trong thời hạn 2 ngày làm việc (quy định cũ là 3 ngày), kể từ ngày nhận hồ sơ đăng ký, Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông báo cho tổ chức đăng ký về việc chấp nhận hồ sơ hợp lệ hoặc yêu cầu bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Thời hạn bổ sung, hoàn thiện hồ sơ đăng ký là không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày có thông báo về việc yêu cầu bổ sung, hoàn thiện hồ sơ.
Trong thời hạn 5 ngày làm việc (quy định cũ là 10 ngày), kể từ ngày nhận hồ sơ đăng ký hợp lệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, đánh giá hồ sơ đăng ký và công bố thông tin về tổ chức đã hoàn thành đăng ký sử dụng chất được kiểm soát trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính và Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Bên cạnh đó, Nghị định số 83/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 26 về trình tự, thủ tục phân bổ, điều chỉnh, bổ sung, hủy phân bổ hạn ngạch sản xuất và nhập khẩu các chất được kiểm soát theo hướng cắt giảm thời gian xem xét quyết định phân bổ hạn ngạch sản xuất và nhập khẩu trong thời hạn 30 ngày làm việc xuống còn 22 ngày làm việc.
Cụ thể, sửa đổi khoản 2 Điều 26: Căn cứ quy định tại Điều 24, Điều 25 Nghị định này, trong thời hạn 22 ngày làm việc, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét quyết định phân bổ hạn ngạch sản xuất và nhập khẩu cho tổ chức theo quy định tại Mẫu số 03A của Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định này thông qua các hoạt động sau:
a) Rà soát, đánh giá thông tin đăng ký và báo cáo tình hình sử dụng các chất được kiểm soát của tổ chức;
b) Đối chiếu tổng lượng tiêu thụ quốc gia và mục tiêu, yêu cầu quản lý về các chất được kiểm soát;
c) Tổ chức kiểm tra thực tế nhằm xác minh thông tin đăng ký, đánh giá hồ sơ năng lực, kỹ thuật và công nghệ sản xuất trong trường hợp cần thiết;
d) Lấy ý kiến Bộ Công Thương bằng văn bản về dự kiến phân bổ hạn ngạch. Thời gian tham gia ý kiến của Bộ Công Thương là không quá 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến. Quá thời hạn nêu trên mà cơ quan được lấy ý kiến không có văn bản trả lời thì được xác định là thống nhất với nội dung hồ sơ.
Tổ chức có nhu cầu điều chỉnh, bổ sung hạn ngạch sản xuất và nhập khẩu các chất được kiểm soát gửi đơn đề nghị theo Mẫu số 04 của Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định này đến Bộ Nông nghiệp và Môi trường bằng hình thức trực tiếp, trực tuyến hoặc gửi theo dịch vụ bưu chính để được xem xét, điều chỉnh, bổ sung trước ngày 10 tháng 7 hằng năm. Việc điều chỉnh, bổ sung hạn ngạch được thực hiện theo trình tự phân bổ hạn ngạch. Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định điều chỉnh, bổ sung hạn ngạch sản xuất và nhập khẩu trong thời hạn 22 ngày làm việc (quy định cũ là 30 ngày) theo quy định tại Mẫu số 03B của Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định này.
Trong thời hạn 2 ngày làm việc (quy định cũ là 3 ngày), cơ quan quản lý chuyên ngành về biến đổi khí hậu thông báo việc phân bổ, điều chỉnh, bổ sung hạn ngạch sản xuất và nhập khẩu các chất được kiểm soát tới tổ chức đăng ký trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính theo Mẫu số 05A và Mẫu số 05B của Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định này.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 23/03/2026.
Theo Báo Chính phủ
(vasep.com.vn) Nhu cầu thực phẩm đông lạnh tại Nhật Bản đã đạt mức cao chưa từng có trong năm 2025 khi tổng tiêu thụ lần đầu vượt 3 triệu tấn, theo Hiệp hội Thực phẩm Đông lạnh Nhật Bản. Xu hướng này phản ánh sự thay đổi trong thói quen ăn uống, chịu tác động từ lạm phát, già hóa dân số và nhu cầu tiện lợi.
(vasep.com.vn) Một nghiên cứu quy mô thương mại tại Ý cho thấy protein từ côn trùng có thể thay thế đáng kể bột cá trong nuôi trồng thủy sản mà không ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất. Thử nghiệm được thực hiện tại Sardinia trên khoảng 60.000 cá tráp vàng trong 25 tuần, cho thấy có thể thay thế tới 35% nguồn protein động vật bằng bột ruồi lính đen mà vẫn duy trì tăng trưởng và tỷ lệ sống ổn định.
(vasep.com.vn) Giá trứng cá minh thái Alaska tiếp tục giảm mạnh trong tháng 4, khi phiên đấu giá vòng hai tại Seattle ghi nhận mức giá trung bình dưới 600 yên/kg, giảm gần 20% so với tháng trước và cùng kỳ năm ngoái. Đây là mức thấp trong nhiều năm, phản ánh nhu cầu yếu từ Nhật Bản và Hàn Quốc trong bối cảnh tồn kho cao.
(vasep.com.vn) Ba tháng đầu năm 2026, xuất khẩu chả cá và surimi của Việt Nam đạt 63 triệu USD, giảm 5% so với cùng kỳ năm trước. Dù tổng kim ngạch giảm nhẹ với sự sụt giảm ở một số thị trường chủ lực, nhưng nhiều điểm đến khác vẫn tăng trưởng tốt, mở ra dư địa cho nhóm hàng chế biến tiện lợi này trong các quý tới.
(vasep.com.vn) Chính phủ Anh vừa công bố gói tài trợ trị giá 132 triệu bảng Anh (tương đương 178,5 triệu USD) thông qua Chương trình Thủy sản và Hải sản (FaSS), nhằm hỗ trợ các dự án phục vụ ngành thủy sản và cộng đồng ven biển trong 5 năm tới.
(vasep.com.vn) Ngành nuôi trồng thủy sản toàn cầu đang đứng trước áp lực lớn khi nguồn cung bột cá – nguyên liệu cốt lõi trong thức ăn thủy sản – có nguy cơ thiếu hụt nghiêm trọng trong vài năm tới. Báo cáo của Rabobank (9/2025) cảnh báo tình trạng khan hiếm có thể xảy ra ngay từ năm 2028, trong bối cảnh ngành nuôi trồng hiện đã tiêu thụ khoảng 90% nguồn cung bột cá toàn cầu.
(vasep.com.vn) Trong ngắn hạn, khi tồn kho chưa được giải phóng và nguồn cung vẫn lớn, giá trứng cá minh thái nhiều khả năng tiếp tục chịu áp lực giảm.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu tôm của Ecuador chưa bị ảnh hưởng trực tiếp bởi xung đột giữa United States và Iran, nhưng đang chịu áp lực gián tiếp lớn từ gián đoạn logistics toàn cầu, theo chuyên gia John Alarcon – thành viên sáng lập Global Shrimp Council.
Trong ngành tôm, con giống luôn là nền tảng của một vụ nuôi thành công. Một con giống tốt không chỉ khỏe và lớn nhanh, mà còn phải đủ khả năng thích nghi trước thời tiết thất thường, dịch bệnh phức tạp và áp lực chi phí ngày càng tăng. Ít ai biết rằng, để tạo ra những thế hệ tôm giống như vậy, cần cả một hành trình đầu tư dài hạn về khoa học và công nghệ. Suốt hơn hai thập kỷ qua, Tập đoàn Việt Úc đã kiên định theo đuổi hướng đi này với nghiên cứu di truyền, dữ liệu nhiều thế hệ, trung tâm chọn giống và công nghệ sinh học hiện đại. Đây cũng là nền tảng giúp doanh nghiệp giữ vị thế hàng đầu trong lĩnh vực giống tôm tại Việt Nam hiện nay.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn