Indonesia là quốc gia quần đảo lớn nhất thế giới với diện tích biển có thể quản lý được là 6,4 triệu km2. Khu vực biển này là nơi tổ chức một trong những hoạt động đánh bắt cá biển lớn nhất trên thế giới, với sản lượng bền vững tối đa (MSY) là 13 triệu tấn mỗi năm. Ngành thủy sản đã đóng góp khoảng 30 tỷ USD, tương đương 2,7% vào nền kinh tế Indonesia năm 2019.
Nhiều nguồn cá được khai thác chung bởi các tàu công nghiệp sử dụng các công nghệ đánh bắt hiện đại và các tàu quy mô vừa và nhỏ dựa vào các ngư cụ đơn giản. Để quản lý hiệu quả các nguồn dự trữ được chia sẻ này, điều cấp thiết là phải hiểu các chính sách khác nhau sẽ ảnh hưởng đến hành vi của các tàu đánh cá có kích cỡ khác nhau.
Thuế thủy sản có thể là một lựa chọn khả thi khi các công cụ dựa trên thị trường phổ biến khác, chẳng hạn như hạn ngạch chuyển nhượng cá nhân.
Thuế thủy sản có thể là một lựa chọn khả thi khi các công cụ dựa trên thị trường phổ biến khác, chẳng hạn như hạn ngạch chuyển nhượng cá nhân. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã phát triển một mô hình kết hợp sự tương tác giữa các tàu đánh cá quy mô lớn và trung bình để đánh giá tác động của các kế hoạch thuế thay thế. Mô hình này được tham số hóa bằng cách sử dụng nghề đánh bắt cá ngừ vằn (Katsuwonus pelamis) ở Indonesia, nơi có hơn 20 năm kinh nghiệm về thuế thủy sản.
Kết quả cho thấy hệ thống thuế hiện tại có tác động hạn chế trong việc giảm áp lực đánh bắt, vì các khoản nộp thuế được xác định bởi các đặc điểm trước khi sản xuất của các đơn vị đánh bắt. Hơn nữa, tàu dưới 30 GT được miễn thuế, tạo động lực cho ngư dân đầu tư vào tàu dưới hoặc trên 30 GT. Khi thuế chỉ được áp dụng đối với một nhóm tàu, việc giảm thu hoạch của nhóm tàu này có thể được bù đắp bằng việc tăng thu hoạch của các tàu không bị đánh thuế.
Việc áp thuế dựa trên sản lượng đối với cả tàu lớn và tàu vừa sẽ mang lại kết quả cân bằng hơn về mặt phân bổ lợi ích nghề cá và năng lực tàu giữa các khu vực. Chúng tôi thảo luận về ý nghĩa xã hội và thể chế của việc thực hiện hệ thống đánh thuế dựa trên sản xuất để thúc đẩy sử dụng tài nguyên hiệu quả và công bằng trong nghề cá Indonesia.
Thùy Linh (Theo seafoodmedia)
(vasep.com.vn) Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), thị trường thủy sản toàn cầu năm 2026 đang bước vào giai đoạn nhiều biến động khi nguồn cung thắt chặt và các yếu tố địa chính trị tác động mạnh đến thương mại. Báo cáo mới nhất cho thấy dù đầu năm có tín hiệu tích cực, xu hướng chung vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro.
(vasep.com.vn) Thị trường cá minh thái toàn cầu đang ghi nhận biến động mạnh khi giá nguyên liệu từ Nga lần đầu vượt mốc 2.000 USD/tấn trong tuần 13/2026 và tiếp tục xu hướng tăng. Diễn biến này khiến các doanh nghiệp chế biến tại Trung Quốc gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn hàng, buộc nhiều đơn vị phải tạm dừng hoặc giãn tiến độ thu mua.
(vasep.com.vn) Bộ Hàng hải và Thủy sản ghi nhận rằng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Indonesia từ đầu năm đến giữa tháng 3/2026 đã đạt 983 triệu USD.
(vasep.com.vn) Ngành chế biến surimi tại Nhật Bản đang ghi nhận bước tiến mới trong tối ưu chi phí và phát triển bền vững, khi doanh nghiệp Kanetetsu Delica Foods thử nghiệm thành công việc sử dụng phụ phẩm chế biến làm nguyên liệu thức ăn thủy sản.
(vasep.com.vn) Ngành cá rô phi tại Brazil đang chứng kiến diễn biến đáng chú ý khi lần đầu tiên trong lịch sử, lượng nhập khẩu cá rô phi vượt xuất khẩu nội địa. Trong tháng 2/2026, Brazil đã nhập khoảng 1.300 tấn phi lê cá rô phi từ Việt Nam, tương đương hơn 4.000 tấn cá nguyên liệu, chiếm khoảng 6,5% sản lượng cá rô phi hàng tháng của Brazil.
(vasep.com.vn) Indonesia, một trong những quốc gia sản xuất tôm hàng đầu thế giới, đang đối mặt với nhiều hạn chế về năng suất, công nghệ và tính bền vững, buộc Chính phủ phải thúc đẩy các dự án nuôi tôm quy mô lớn nhằm tái cấu trúc ngành.
(vasep.com.vn) Chương trình chứng nhận nguyên liệu biển MarinTrust vừa công bố phiên bản mới 2.1 của tiêu chuẩn Chuỗi hành trình sản phẩm (Chain of Custody – CoC), nhằm tăng cường truy xuất nguồn gốc và tính toàn vẹn của các sản phẩm được chứng nhận.
(vasep.com.vn) EHP (vi bào tử trùng) đang là tác nhân chính gây hội chứng tôm chậm lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất nuôi. Bào tử EHP tồn tại trong nước, bùn đáy, thức ăn và sinh vật trung gian, có thể sống nhiều ngày và xâm nhiễm khi điều kiện pH, nhiệt độ phù hợp.
(vasep.com.vn) Năm 2025, XK cá ngừ của Việt Nam sang Tây Ban Nha tăng 13% so với năm 2024. Xu hướng tăng trưởng này tiếp tục duy trì trong 2 tháng đầu năm 2026. Theo số liệu thống kê của Hải quan Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt gần 3 triệu USD trong tháng 1-2/2026, tăng 101% so với cùng kỳ năm 2025 và cao hơn đáng kể so với cùng kỳ năm 2024. Diễn biến này cho thấy Tây Ban Nha đang trở lại là điểm đến đáng chú ý của cá ngừ Việt Nam trong bối cảnh nhu cầu nguyên liệu và sản phẩm cá ngừ tại châu Âu vẫn ở mức lớn.
(vasep.com.vn) Nghị viện châu Âu European Parliament đã thông qua khung thương mại đạt được giữa Liên minh châu Âu (European Union) và Mỹ, theo đó dỡ bỏ phần lớn thuế quan đối với hàng hóa Mỹ, đồng thời dành ưu đãi cho nhiều mặt hàng thủy sản.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn