Chương trình hành động tổng thể thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP được phân kỳ thực hiện theo các giai đoạn: Giai đoạn đến năm 2020, giai đoạn 2021 - 2030, định hướng giai đoạn 2031 - 2050 và đến năm 2100. Kèm theo chương trình hành động này là Danh mục các Đề án, Chương trình, Dự án, Nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP.
Giai đoạn đến năm 2020
Trọng tâm của giai đoạn này là thực hiện những nhiệm vụ cấp bách đã nêu trong Nghị quyết số 120/NQ-CP. Trong đó, ưu tiên giải quyết vấn đề sạt lở bờ biển, bờ sông, rạch và sụt lún đất trong vùng đang diễn ra rất nhanh và ngày càng trầm trọng; triển khai quy hoạch, thiết kế các dự án cần đầu tư quy mô lớn ở giai đoạn tiếp theo nhằm triển khai mô hình kinh tế - xã hội của vùng một cách bền vững và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.
Nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn này tập trung vào các hoạt động rà soát các cơ chế, chính sách, xác định và trình phê duyệt các chính sách mới. Thí điểm các mô hình chuyển đổi kinh tế; triển khai các hoạt động đầu tư xây dựng hạ tầng đã được phê duyệt. Trong đó, các dự án đầu tư để chuyển đổi mô hình kinh tế của vùng nhằm phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu có vai trò quan trọng cần được ưu tiên. Rà soát, xây dựng và hoàn thiện Quy hoạch tổng thể phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo phương pháp tích hợp đa ngành; triển khai thực hiện các chương trình, đề án đã được xác định và phê duyệt. Rà soát, cập nhật và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành và liên ngành về đồng bằng sông Cửu Long; xây dựng và phê duyệt các đề án tăng cường công tác điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường và phòng chống thiên tai vùng đồng bằng sông Cửu Long; nâng cấp hệ thống quan trắc, giám sát, cảnh báo và dự báo về tài nguyên và môi trường.
Triển khai các chương trình truyền thông, tổ chức các khóa đào tạo tập huấn; triển khai các đề án phát triển nguồn nhân lực, các đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ được duyệt.
Giai đoạn 2021 - 2030
Dựa trên kết quả thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp của giai đoạn đến năm 2020, trọng tâm của giai đoạn này tập trung vào việc triển khai các dự án, nhiệm vụ đã được phê duyệt, đồng thời xúc tiến những dự án, nhiệm vụ đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi những nguồn kinh phí lớn. Các nhiệm vụ cần tiếp tục thực hiện trong giai đoạn 2021 - 2030 là triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách, quy hoạch được xây dựng và phê duyệt ở giai đoạn đến năm 2020; duy trì và cập nhật hệ thống cơ sở dữ liệu liên ngành, điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường vùng đồng bằng sông Cửu Long; triển khai thực hiện các mô hình kinh tế hợp lý đã thí điểm thành công; tiếp tục đầu tư và phát triển hạ tầng, phát triển và huy động nguồn lực. Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của giai đoạn 2021 - 2030 gồm:
1. Đúc kết kinh nghiệm, nhân rộng các mô hình chuyển đổi kinh tế đã được thí điểm thành công; triển khai các hoạt động đầu tư xây dựng hạ tầng theo các chương trình, dự án đã được phê duyệt trong giai đoạn đầu hoặc sẽ phê duyệt trong giai đoạn hai. Trong đó, các dự án đầu tư để chuyển đổi mô hình kinh tế của vùng nhằm phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu có vai trò quan trọng cần được ưu tiên.
2. Tiếp tục thực hiện rà soát, hoàn thiện và bổ sung hệ thống cơ chế, chính sách: triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách đã được xác định và phê duyệt ở giai đoạn đầu.
3. Về cập nhật, hệ thống hóa và điều tra xây dựng cơ sở dữ liệu liên ngành: thường xuyên cập nhật các dữ liệu để phục vụ công tác quy hoạch, tổ chức không gian lãnh thổ, chuyển đổi mô hình sản xuất và quy hoạch tổng thể phát triển bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu. Cập nhật, hoàn thiện và công bố định kỳ kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam và cập nhật hệ thống cơ sở dữ liệu liên ngành phục vụ công tác ứng phó với biến đổi khí hậu.
4. Về nhóm nhiệm vụ xây dựng quy hoạch, tổ chức không gian lãnh thổ: triển khai thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo phương pháp tích hợp đa ngành; thực hiện các chương trình, đề án đã được xác định và phê duyệt.
5. Về nhóm nhiệm vụ xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, thích ứng với biến đổi khí hậu: đúc kết kinh nghiệm và nhân rộng các mô hình đã thí điểm thành công về tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo ba trọng tâm thủy sản - cây ăn quả - lúa gắn với các tiểu vùng sinh thái. Tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ nhằm xây dựng cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý, bảo đảm gắn kết chuỗi sản phẩm hàng hóa, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Chú trọng chuỗi công nghiệp chế biến và công nghiệp hỗ trợ cho nền kinh tế nông nghiệp. Triển khai thực hiện các nhiệm vụ về phát triển công nghiệp xanh, năng lượng tái tạo; phát triển dịch vụ - du lịch dựa trên tiềm năng, lợi thế về đặc điểm tự nhiên, sinh thái, văn hóa, con người và nhân rộng các mô hình phát triển dịch vụ du lịch, nhân rộng các khu bảo tồn.
6. Về nhóm nhiệm vụ đầu tư và phát triển hạ tầng: đầu tư thực hiện các dự án đã được xác định trong quy hoạch, kế hoạch theo lộ trình và các đề án được phê duyệt, trong đó chú trọng đến việc đúc kết kinh nghiệm và nhân rộng các mô hình đã được thí điểm thành công trong giai đoạn trước.
7. Về nhóm nhiệm vụ phát triển và huy động nguồn lực: tiếp tục triển khai các chương trình truyền thông, tổ chức các khóa đào tạo tập huấn; triển khai các đề án phát triển nguồn nhân lực, các đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ được duyệt. Việc huy động nguồn lực tài chính là một trong những ưu tiên trọng tâm của giai đoạn này bao gồm việc vận hành quỹ cho phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Định hướng giai đoạn 2031 - 2050
Nội dung của giai đoạn này là phát huy hiệu quả và tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp, chương trình, dự án, nhiệm vụ của giai đoạn đến năm 2020 và 2021 - 2030, điều chỉnh bổ sung cho phù hợp để đến năm 2050, đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao, kết hợp với dịch vụ, du lịch sinh thái, có trình độ phát triển khá so với cả nước về tổ chức xã hội, kinh tế và mạng lưới hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu, thích ứng với điều kiện tài nguyên nước và an toàn trước thiên tai.
Triển khai từng bước công nghiệp hóa nông nghiệp chuyên canh theo chuỗi hàng hóa phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, tình trạng lũ, hạn, mặn, thiếu nước ngọt và kịch bản biến đổi khí hậu của từng khu vực; hoàn thiện cơ sở hạ tầng để thuận tiện trong kết nối với thị trường trong nước và quốc tế. Các quyết định đầu tư lớn cần được xây dựng trên cơ sở tham vấn rộng rãi các bên liên quan, lấy trọng tâm là phục vụ phát triển các vùng nông nghiệp chuyên canh theo chuỗi hàng hóa chất lượng cao kết hợp dịch vụ, du lịch sinh thái; được đánh giá đầy đủ về chi phí, lợi ích và phù hợp với tổ chức xã hội, điều kiện đất đai, tài nguyên nước, biến đổi khí hậu tại khu vực.
Định hướng đến năm 2100
Nội dung của giai đoạn này là kế thừa, phát huy các kết quả đạt được sau khi thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp đã được xác định cho giai đoạn trước 2050, trong đó có phát triển về chiều sâu các mô hình nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao. Sản phẩm của đồng bằng sông Cửu Long trở thành các thương hiệu có uy tín và tính cạnh tranh cao trên thế giới và phù hợp điều kiện khí hậu, đất đai, thổ nhưỡng cả khu vực. Các khu dịch vụ, du lịch sinh thái trở thành điểm đến có sức hút mạnh mẽ với du khách quốc tế và nằm trong chuỗi du lịch chất lượng cao của toàn khu vực sông Mê Công. Đến năm 2100, đồng bằng sông Cửu Long trở thành trung tâm kinh tế của khu vực sông Mê Công, với trình độ tiên tiến về tổ chức xã hội, kinh tế và mạng lưới hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu. Các nhiệm vụ cụ thể cho giai đoạn sau năm 2051 đến năm 2100 sẽ được bổ sung khi sửa đổi Chương trình hành động tổng thể vào giai đoạn sau.
3 trọng tâm: thủy sản - cây ăn quả - lúa gắn với các tiểu vùng sinh thái
Trong các nhiệm vụ xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, UBND các tỉnh, Tp được giao phối hợp với Bộ NN&PTNT và các bộ, ngành có liên quan thực hiện xây dựng cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo 3 trọng tâm: thủy sản - cây ăn quả - lúa gắn với các tiểu vùng sinh thái, trong đó coi thủy sản (nước ngọt, nước lợ, nước mặn) là sản phẩm chủ lực. Đến 2020, triển khai thực hiện các mô hình đã thí điểm và xây dựng các mô hình thí điểm mới. Từ năm 2021 - 2030 sẽ đúc kết kinh nghiệm và nhân rộng. Các hoạt động cụ thể như sau:
- Chuyển đổi cơ cấu và hỗ trợ đầu tư phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực ở ĐBSCL.
- Chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất trồng lúa ở vùng cửa sông, ven biển sang nuôi trồng thủy, hải sản nhằm thích ứng với xâm nhập mặn gia tăng.
- Phát triển nông nghiệp hữu cơ ở ĐBSCL.
- Xây dựng nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý một số sản phẩm nông sản chủ lực của các địa phương ĐBSCL.
- Chuyển hóa rừng giống, cải tạo rừng, trồng rừng thay thế, phát triển rừng bền vững ở ĐBSCL.
- Thử nghiệm thả rạn san hô nhân tạo nhằm bảo vệ, tái tạo nguồn lợi thủy sản kết hợp phát triển du lịch trên vùng biển tỉnh Cà Mau.
- Thí điểm hoàn thiện, nhân rộng mô hình hợp tác xã kiểu mới tại vùng ĐBSCL.
- Tái tạo, bổ sung nguồn lợi thủy sản tại một số lưu vực sông và vùng ven biển ĐBSCL.
- Xây dựng mô hình kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản phù hợp với tự nhiên, chủ động thích ứng với mặn và hạn.
- Phát triển ngành thủy sản bền vững vùng ĐBSCL.
- Xây dựng đề án phát triển thủy sản bền vững ĐBSCL kết hợp điều tra đánh giá ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến nuôi trồng thủy sản ĐBSCL
- Xây dựng đề án quản lý và phát triển rừng ngập mặn phục vụ phòng hộ ven sông, ven biển ...
Bảo đảm gắn kết chuỗi sản phẩm hàng hóa, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu
Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với Bộ NN&PTNT; các tỉnh/thành phố vùng ĐBSCL có liên quan xây dựng cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý, bảo đảm gắn kết chuỗi sản phẩm hàng hóa, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, chú trọng chuỗi công nghiệp chế biến và công nghiệp hỗ trợ cho nền kinh tế nông nghiệp. Các hoạt động cụ thể như sau:
- Tăng cường xúc tiến thương mại, tổ chức lại và mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đối với các sản phẩm nông, lâm, thủy sản chủ lực vùng ĐBSCL.
- Xây dựng và phát triển thương hiệu vùng ĐBSCL trong ngành hàng thực phẩm Việt Nam.
- Hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn vùng ĐBSCL phát triển công nghiệp chế biến nông, thủy sản theo hướng bền vững, thích ứng với BĐKH.
- Hỗ trợ hình thành chuỗi giá trị khép kín vùng ĐBSCL - TP. HCM; phát triển hệ thống logistics kết nối TP. HCM và ĐBSCL.
- Phát triển ngành nghề nông thôn ở ĐBSCL, chuyển đổi sinh kế từ việc dựa vào hệ sinh thái nước ngọt sang hệ sinh thái nước mặn, lợ nhằm thích ứng với BĐKH, nước biển dâng.
Chuyển đổi nông nghiệp bền vững vùng ĐBSCL
Bộ NN&PTNT chủ trì phối hợp với các bộ, ngành có liên quan; UBND các tỉnh, thành phố có liên quan vùng ĐBSCL: Kiên Giang, An Giang, Tiền Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng và Long An:
- Xây dựng Chương trình tổng thể phát triển nông thôn bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH gắn liền với cơ cấu lại ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới để phát triển nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL theo hướng bền vững, hiện đại, hiệu quả cao, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế, thích ứng với BĐKH.
- Hợp phần “Hỗ trợ các hệ thống trồng lúa bền vững” thuộc dự án “Chuyển đổi nông nghiệp bền vững Việt Nam.
(vasep.com.vn) Trước biến động thuế quan toàn cầu và tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, Bộ Thủy sản Ấn Độ kêu gọi các bang, doanh nghiệp và người nuôi đẩy mạnh đa dạng hóa đối tượng nuôi, ứng dụng công nghệ mới nhằm giảm rủi ro dịch bệnh, nâng cao sức cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu.
(vasep.com.vn) Năm 2025, thị trường cá tuyết đông lạnh tại Hàn Quốc đã trải qua những thay đổi bất ngờ, bất chấp sự sụt giảm về khối lượng nhập khẩu. Cụ thể, nước này chỉ nhập khẩu 5.693 tấn cá tuyết, giảm 8% so với năm trước. Tuy nhiên, chi phí nhập khẩu lại tăng mạnh—từ 19,12 triệu USD năm 2024 lên 29,63 triệu USD năm 2025, tăng 55%.
(vasep.com.vn) Theo báo cáo được công bố vào ngày 27/1/2026, ngư dân ở Biển Okhotsk đã đánh bắt được 76.100 tấn cá minh thái, chỉ chiếm 6,5% tổng sản lượng cho phép. So với cùng kỳ năm 2025, sản lượng đánh bắt cao hơn đáng kể—134.800 tấn, tăng 14,9%.
(vasep.com.vn) Bước sang 2026, một số sản phẩm chủ lực từ 12 nghề khai thác của Việt Nam tạm thời không được XK sang Hoa kỳ theo kết quả đánh giá tương đương của đạo luật MMPA. Một số SP hải sản khai thác khác được phép tiếp tục xuất khẩu là những cơ hội mà cộng đồng DN đang thực sự chắt chiu, sàng lọc từng cơ hội. Tuy nhiên, từ 01/01/2026 tới nay là đã 1 tháng, việc cấp giấy COA cho các sản phẩm hải sản khai thác kể trên XK sang Hoa Kỳ gặp nhiều bất cập, vướng mắc, không đủ điều kiện hoặc kéo dài với những thủ tục hành chính phát sinh khiến cho việc xuất khẩu các SP này bị đình trệ và ách tắc không nhỏ.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiến nghị Thủ tướng, Phó thủ tướng giao Bộ Y tế là cơ quan đầu mối phối hợp các bộ, ngành có liên quan rà soát, sửa đổi ngay Nghị định 46 đảm bảo tính khả thi.
(vasep.com.vn) Năm 2025, xuất khẩu cua của Na Uy ghi nhận tăng trưởng mạnh, đặc biệt ở nhóm sản phẩm cua hoàng đế đông lạnh và cua tuyết. Tổng lượng xuất khẩu cua hoàng đế của Na Uy đạt 1.844 tấn, trị giá 112,5 triệu USD. So với năm 2024, khối lượng tăng 24%, trong khi giá trị tăng thêm 35,3 triệu USD, tương đương mức tăng 46%, cao hơn cả năm 2023 khoảng 562.000 USD.
(vasep.com.vn) Hội đồng Tôm Toàn cầu (Global Shrimp Council – GSC) cho biết chiến dịch quảng bá tôm với thông điệp “protein hạnh phúc” trên mạng xã hội trong năm 2025 đã đạt kết quả vượt kỳ vọng, tạo nền tảng để tổ chức này mở rộng hoạt động tiếp thị trực tiếp đến người tiêu dùng trong năm 2026. Thông tin được ông Gabriel Luna, đồng sáng lập GSC, chia sẻ tại Hội nghị Thị trường Thủy sản Toàn cầu diễn ra ngày 20/1 tại Hollywood, bang Florida (Mỹ).
(vasep.com.vn) Doanh số thủy sản bán lẻ tăng nhẹ trong năm 2025, nhưng các chuyên gia cho rằng ngành hàng này vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng nếu thoát khỏi “giới hạn” của quầy hải sản truyền thống. Nội dung này được nhấn mạnh tại Hội nghị Thị trường Thủy sản Toàn cầu 2026, diễn ra từ ngày 18–22/1 tại Hollywood, bang Florida (Mỹ).
(vasep.com.vn) Mỹ đang nổi lên là một trong những thị trường tăng trưởng nhanh nhất đối với xuất khẩu thủy sản của Na Uy, song ngành này hiện theo dõi sát sao khả năng Tổng thống Mỹ Donald Trump thực hiện các đe dọa áp thuế mới đối với hàng hóa Na Uy.
(vasep.com.vn) Tập đoàn Nissui (Trụ sở tại quận Minato, Tokyo; Chủ tịch kiêm CEO Akira Tanaka) thông báo sẽ ra mắt ba sản phẩm mới trong dòng thực phẩm đông lạnh “Today’s Side Dish” từ ngày 1/3. Các sản phẩm gồm: Cá thu nướng muối dùng lò vi sóng, Cá sawara nướng vị Saikyo kiểu Kyoto, và Cá nục chiên sốt mơ và lá tía tô. Cả ba đều được thiết kế cho tiêu dùng tại gia và chỉ cần hâm nóng bằng lò vi sóng.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn