Trong đó, kiến nghị giảm kinh phí công đoàn xuống còn tối đa 1% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội và dùng toàn bộ kinh phí công đoàn chăm lo tốt hơn nữa cho người lao động. Đây là vấn đề gây mệt mỏi và kéo dài dai dẳng cho cộng đồng doanh nghiệp nhiều năm qua.
Giảm kinh phí công đoàn xuống còn tối đa 1% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội
8 Hiệp hội đưa ra lập luận rằng, theo Điều 8, Luật Ngân sách Nhà nước (NSNN), NSNN bảo đảm cân đối kinh phí hoạt động của tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội, do đó việc bảo đảm kinh phí hoạt động của hệ thống công đoàn thuộc trách nhiệm của NSNN. Trong khi, Luật Công đoàn lại yêu cầu người sử dụng lao động đóng kinh phí công đoàn. Ngay từ tên gọi của khoản thu này “kinh phí công đoàn” đã cho thấy đây là trách nhiệm của NSNN, không phải trách nhiệm của Người sử dụng lao động.
Theo Điều 8, Luật Ngân sách Nhà nước và Điều 9, Nghị định 163/2016/ NĐ-CP của Chính phủ thì không có cơ sở nào có thể áp dụng việc thu kinh phí công đoàn. Hiểu một cách minh bạch khi đề cập tới các nguồn thu theo Điều lệ của các tổ chức này (trong đó có Liên đoàn Lao động Việt Nam) thì các tổ chức chính trị xã hội này chỉ được đưa ra các quy định về việc thu và quy định mức thu các khoản phí do các thành viên của tổ chức mình đóng góp, và trong trường hợp của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là phí công đoàn do người lao động là đoàn viên công đoàn đóng.
Cơ sở của lập luận này là Điều lệ của tổ chức chỉ có thể áp dụng cho và mang tính chất ràng buộc với thành viên của tổ chức đó, không thể áp dụng cho các chủ thể nằm ngoài tổ chức đó. Do vậy, nếu Luật Công đoàn cho phép Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được quyền thu và nắm giữ kinh phí công đoàn là tạo ra một mâu thuẫn nội tại trong hệ thống pháp luật, cụ thể là Luật Ngân sách Nhà nước.
Trong trường hợp Quốc hội quyết định tiếp tục thu kinh phí công đoàn từ người sử dụng lao động, các hiệp hội kiến nghị khoản tiền này không nhằm phục vụ cho hoạt động của các cơ quan trong hệ thống công đoàn đã được NSNN cấp kinh phí và chỉ phục vụ cho việc chăm lo đời sống cho người lao động tại doanh nghiệp. Điều này nhằm loại bỏ triệt để mâu thuẫn đã nêu. Cũng trên cơ sở đó, cần đổi tên kinh phí công đoàn thành khoản tiền chăm lo cho lợi ích của người lao động và khoản tiền này do Nhà nước quản lý chứ không phải do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam nắm giữ nhằm tách biệt hẳn khoản tiền này ra khỏi các chi phí hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam - tức kinh phí hoạt động thuộc trách nhiệm của NSNN. Do khoản thu này chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích của người lao động, cần giảm tỷ lệ đóng khoản thu này xuống tối đa 1% vì lý do doanh nghiệp hiện tại đã tự nguyện cung cấp rất nhiều các lợi ích cho người lao động, ngoài những lợi ích người lao động được hưởng từ kinh phí công đoàn.
Hơn nữa, việc doanh nghiệp đóng thuế, tức là đã gián tiếp đóng góp kinh phí cho công đoàn thông qua NSNN, nay phải trích nộp thêm kinh phí công đoàn nghĩa là doanh nghiệp phải đóng thêm 2% thuế trên qũy lương làm căn cứ đóng BHXH của doanh nghiệp.
Sau 8 năm thực hiện Luật Công đoàn 2012, khi tình hình kinh tế xã hội đã có rất nhiều thay đổi, các mức lương tối thiểu vùng đã tăng lên nhiều lần và quy mô lao động tại các doanh nghiệp đã tăng lên, khiến cho quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội (gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác) trở nên rất lớn và tiếp tục phình to khi lương tối thiểu tiếp tục tăng trong các năm tới, vì vậy đã đến lúc cần phải xem xét giảm tỷ lệ đóng kinh phí công đoàn 2% xuống mức phù hợp.
Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước về việc quản lý, sử dụng tài chính công của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam thể hiện tổng thu tài chính công đoàn trong 7 năm (từ năm 2013-2019) là 100.354 tỉ đồng. Tổng thu trung bình mỗi năm tăng 12%. Tổng thu tài chính công đoàn năm 2019 so với năm 2012 tăng 2,3 lần, trong đó kinh phí công đoàn tăng 2,57 lần, đoàn phí tăng 2,26 lần, thu khác tăng 1,24 lần.
Theo các hiệp hội ngành hàng, số liệu nêu trên cho thấy việc tăng trưởng mạnh của quỹ công đoàn theo mức thu 2% phí công đoàn, các cấp công đoàn đã không sử dụng hết số tiền thu được.
"Chúng tôi kiến nghị Luật công đoàn cần sửa đổi và quy định mức nộp kinh phí công đoàn tối đa 1% trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội. Chính phủ có quyền quyết định tỉ lệ đóng này theo từng thời kỳ, tùy theo tình hình kinh tế xã hội. Điều này nhằm đảm bảo quy định có tính chất linh hoạt và phù hợp với tình hình biến động kinh tế, xã hội của Việt Nam, khu vực và thế giới qua từng thời kỳ.
Cách thức quy định này đã từng được áp dụng trong một số luật, ví dụ quy định về tỉ lệ đóng bảo hiểm y tế theo quy định hiện hành", kiến nghị nhấn mạnh quan điểm.
Dùng toàn bộ kinh phí công đoàn chăm lo tốt hơn nữa cho người lao động
Hiện tại, mức phân bổ kinh phí công đoàn như sau: 69% tổng số thu kinh phí công đoàn do công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp sử dụng; 31% tổng số thu kinh phí công đoàn nộp công đoàn cấp trên. Tuy nhiên, theo Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán của Nhà nước về việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công năm 2019 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
Nhu cầu chi ở cấp cơ sở cao, kinh phí chưa đủ đáp ứng, và không có thu khác từ tổ chức công đoàn tích lũy, trong khi các cơ quan công đoàn cấp trên, nhu cầu sử dụng thấp, dẫn đến thừa nguồn, tăng tích lũy cuối kỳ, do đó, công đoàn cấp dưới bị hạn chế các khoản chi chăm lo trực tiếp cho người lao động.
Chi lương phụ cấp và quản lý hành chính chiếm tới 20.200 tỷ đồng, gần 26,3% tổng chi công đoàn, đồng nghĩa với việc cứ chi cho người lao động 1 đồng lại mất 0,5 đồng chi lương và hành chính. So sánh với cùng cơ quan quản lý hành chính thì định mức chi cho cán bộ công đoàn cao hơn rất nhiều so với định mức chi hành chính của biên chế nhà nước khác (chỉ từ 43,7 - 60,7 triệu đồng), tức là hơn từ 500% tới cả nghìn %.
Một số cấp công đoàn sử dụng nguồn tích lũy chưa hiệu quả do chưa cân đối giữa nguồn thu và nhiệm vụ chi, nên chỉ gửi các khoản tiền ngắn hạn hoặc không kỳ hạn. Hoạt động đầu tư góp vốn, mua cổ phần, liên doanh - liên kết, cho vay từ nguồn tích lũy tài chính công đoàn còn chưa có cơ chế cho vay rõ ràng, minh bạch, chưa quy định về thời hạn trả nợ, điều kiện ràng buộc, trách nhiệm trả nợ, cũng như không giám sát việc sử dụng vốn vay. Từ đó, nhiều đơn vị đầu tư khó có khả năng thu hồi vốn. Thêm vào đó, việc đầu tư các cấp công đoàn sử dụng chi từ nguồn tích lũy, nhưng không lập dự toán, không được cấp trên có thẩm quyền phê duyệt dự toán.
Khoản kinh phí công đoàn cần phải được đối xử đúng ý nghĩa của nó là chăm lo đời sống của người lao động, đầu tư vào các hoạt động cho người lao động. Toàn bộ hoặc tối đa kinh phí công đoàn phải được dành cho các lợi ích của người lao động. Chúng tôi một lần nữa nhấn mạnh kiến nghị rằng không dùng kinh phí công đoàn làm kinh phí hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong khi đảm bảo kinh phí hoạt động này thuộc về NSNN đã được quy định rõ trong Luật Ngân sách Nhà nước. Khoản tiền này cũng không nên được tiếp tục gọi là kinh phí công đoàn vì nó sẽ tạo ra sự nhầm lẫn và mâu thuẫn về mục đích ý nghĩa của khoản thu.
Kiến nghị nhấn mạnh rằng, trong bối cảnh nhà nước cho phép người lao động thành lập các tổ chức đại diện người lao động khác của họ ngoài công đoàn, công đoàn phải chứng minh được tính độc lập, sự hấp dẫn, và hiệu quả hoạt động của mình để thu hút, cạnh tranh tầm ảnh hưởng của mình với các tổ chức đại diện người lao động khác - các tổ chức không nhận được kinh phí hoạt động từ NSNN.
Do đó, cần có một cơ quan nhà nước độc lập thuộc Chính phủ, tách biệt với tổ chức công đoàn để quản lý nguồn kinh phí công đoàn này và quyết định việc sử dụng, chi tiêu một cách hiệu quả nhất cho lợi ích của người lao động. Trong bối cảnh sẽ có các tổ chức đại diện người lao động khác ngoài công đoàn, độc lập và bình đẳng với công đoàn, cần phải có một cơ chế công bằng và minh bạch, rạch ròi về khoản tiền này, nhằm tạo ra một môi trường bình đẳng cho tất cả các tổ chức đại diện của người lao động hoạt động.
Xây dựng kế hoạch chi tiêu và quản lý hiệu quả tổ chức công đoàn và tinh gọn bộ máy nhằm đảm bảo hoạt động hiệu quả và tối đa hóa chi phí, ưu tiên cho các hoạt động dành cho người lao động.
Ngày 20/3/2026, Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 141/TB-VPCP về kết luận của Thường trực Chính phủ liên quan đến việc xử lý các vướng mắc, bất cập của Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP về an toàn thực phẩm.
(vasep.com.vn) Nhu cầu bột cá toàn cầu tiếp tục tăng cùng với sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản, song sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn nguyên liệu này đang đặt ra nhiều thách thức về chi phí, tính bền vững và an ninh nguồn cung. Trong bối cảnh đó, các giải pháp thay thế như đạm động vật sinh học từ phụ phẩm đang được xem là hướng đi tiềm năng cho ngành thức ăn thủy sản Việt Nam.
(vasep.com.vn) Xung đột tại Iran đang khiến eo biển Hormuz – một trong những tuyến hàng hải quan trọng nhất thế giới – trở thành điểm nghẽn logistics mới, ảnh hưởng đáng kể đến vận tải container toàn cầu. Dù chỉ khoảng 1,4% công suất đội tàu container thế giới bị “đóng băng”, nhưng nếu tính cả các tuyến dịch vụ và vòng quay tàu liên quan đến khu vực Vịnh Ba Tư, tác động thực tế có thể lan tới hơn 10% hệ thống vận tải container toàn cầu.
(vasep.com.vn) Nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm thực phẩm giá hợp lý và giàu dinh dưỡng đang thúc đẩy thị trường surimi toàn cầu mở rộng nhanh trong những năm tới. Theo báo cáo của Fortune Business Insights, quy mô thị trường surimi được ước tính đạt khoảng 4,57 tỷ USD vào năm 2025, tăng lên 4,85 tỷ USD vào năm 2026 và dự kiến đạt 7,83 tỷ USD vào năm 2034, tương ứng với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) khoảng 6,18% trong giai đoạn dự báo.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong tháng 2/2026, với nhiều thị trường ghi nhận mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam đạt 23 triệu USD, tăng 242% so với cùng kỳ năm ngoái.
Việc trở thành thành viên VASEP với Công ty Cổ phần Công nghệ 111 Việt Nam là dấu mốc quan trọng trong hành trình đồng hành cùng ngành thủy sản Việt Nam phát triển bền vững, hiện đại và hội nhập quốc tế.
Từ bao đời nay, cây tre đã trở thành biểu tượng cho sức sống bền bỉ và kiên cường của con người Việt Nam. Tre hiện diện khắp mọi miền đất nước, không chỉ mang lại màu xanh cho đất trời mà còn đi vào đời sống con người bằng nhiều giá trị thiết thực.
(vasep.com.vn) Nguồn cung mực nội địa tại Hàn Quốc tiếp tục khan hiếm, khiến giá tăng nhanh. Để ổn định thị trường và tăng sản lượng, Bộ Đại dương và Thủy sản Hàn Quốc đã cấp phép cho một số tàu lưới kéo cỡ lớn khai thác mực Argentina (Illex argentinus) tại vùng biển Tây Nam Đại Tây Dương.
(vasep.com.vn) Trước tình trạng nguồn cung dầu cá ngày càng hạn chế và giá biến động mạnh, dầu vi tảo đang được xem là nguồn omega-3 thay thế tiềm năng cho cả ngành thức ăn chăn nuôi và thực phẩm. Nhiều nghiên cứu cho thấy sản xuất dầu tảo có thể tăng nhanh trong những năm tới nhằm bù đắp khoảng thiếu hụt omega-3 trên thị trường toàn cầu.
(vasep.com.vn) Trong tháng 2/2026, xuất khẩu cá tra của Việt Nam đạt 119 triệu USD, giảm nhẹ 5% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, nhờ kết quả tích cực trong tháng đầu năm, lũy kế kim ngạch 2 tháng đầu năm vẫn đạt 331 triệu USD, tăng 28% so với cùng kỳ năm 2025.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn