10 tháng đầu năm nay, nhà cung cấp lớn nhất là Ecuador ghi nhận lượng tôm xuất sang Trung Quốc giảm nhẹ 1%, nhưng giá trị vẫn tăng 9%. Điều này cho thấy Ecuador ưu tiên các dòng sản phẩm có giá trị cao hơn, tôm cỡ lớn, hoặc duy trì mức giá tốt hơn dù lượng không tăng.
Ngoài Ecuador, các đối thủ mạnh như Ấn Độ và Thái Lan cũng ghi nhận mức tăng trưởng giá trị xuất khẩu tôm sang Trung Quốc lần lượt 16% và 14%. Đáng chú ý, mức tăng chủ yếu tập trung vào các tháng cuối kỳ (tháng 9, 10) – giai đoạn các nhà nhập khẩu Trung Quốc đẩy mạnh gom hàng phục vụ dịp lễ hội cuối năm và Tết Nguyên đán.
Diễn biến này cho thấy cuộc cạnh tranh cung ứng tôm vào Trung Quốc ngày càng quyết liệt, không chỉ về giá mà còn về khả năng đáp ứng kịp thời các đợt cao điểm nhu cầu.
Theo số liệu của Hải quan Việt Nam, tôm Việt Nam sang thị trường Trung Quốc và Hồng Kông (TQ&HK) tiếp tục bứt phá. Tính đến ngày 15/11/2025, kim ngạch đạt khoảng 1,2 tỷ USD, tăng 60% so với cùng kỳ năm 2024; riêng thị trường Trung Quốc đại lục tăng 66%. Việt Nam nhờ đó củng cố vị thế trong nhóm nhà cung cấp tôm quan trọng tại thị trường này.
Bên cạnh tôm hùm-mặt hàng chiếm tỷ tọng cao nhất trong cơ cấu sản phẩm tôm XK của Việt Nam sang Trung Quốc, tôm sú Việt Nam tiếp tục giữ lợi thế rõ rệt tại TQ&HK – thị trường số 1 của tôm sú Việt Nam. Đây là phân khúc tôm cao cấp, thường phục vụ kênh nhà hàng – khách sạn – dịch vụ ăn uống và các phân khúc tiêu dùng đòi hỏi chất lượng, kích cỡ đồng đều.
Xu hướng tăng giá trị nhập khẩu, trong khi sản lượng chỉ tăng rất nhẹ, cho thấy người tiêu dùng Trung Quốc sẵn sàng chi cho sản phẩm cao cấp hơn, chế biến tiện lợi hơn. Điều này mở ra dư địa cho các dòng sản phẩm tôm sú chất lượng cao, tôm chế biến sâu, tôm đóng gói mang thương hiệu Việt Nam.
Để tận dụng tốt cơ hội tại thị trường Trung Quốc trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh nghiệp nên ưu tiên đẩy mạnh các sản phẩm tôm sú đông lạnh chất lượng cao, chủ động kế hoạch sản xuất – thu mua – tồn kho hợp lý để đảm bảo nguồn cung tôm chân trắng ổn định cho thị trường này. Và cần cập nhật thường xuyên quy định, tiêu chuẩn mới; xây dựng hệ thống quản lý chất lượng, hồ sơ vùng nuôi, nhà máy chế biến đầy đủ để đảm bảo thông quan thuận lợi, giảm rủi ro phát sinh chi phí và chậm trễ đơn hàng.
|
Nhập khẩu tôm của Trung Quốc, T1-T10/2025 |
||||||
|
Tháng |
T1-T10/2024 |
T1-T10/2025 |
Tăng, giảm (%) |
|||
|
KL (tấn) |
GT (triệu USD) |
KL (tấn) |
GT (triệu USD) |
KL |
GT |
|
|
T1 |
103.855 |
512 |
76.802 |
434 |
-26,05 |
-15,34 |
|
T2 |
65.002 |
318 |
67.890 |
367 |
4,44 |
15,21 |
|
T3 |
81.089 |
406 |
76.421 |
395 |
-5,76 |
-2,74 |
|
T4 |
73.644 |
377 |
75.786 |
391 |
2,91 |
3,56 |
|
T5 |
74.680 |
368 |
79.469 |
407 |
6,41 |
10,58 |
|
T6 |
83.689 |
409 |
91.811 |
486 |
9,70 |
18,86 |
|
T7 |
87.123 |
428 |
98.115 |
506 |
12,62 |
18,20 |
|
T8 |
86.970 |
433 |
91.862 |
478 |
5,62 |
10,49 |
|
T9 |
72.561 |
363 |
73.885 |
400 |
1,83 |
10,11 |
|
T10 |
76.621 |
275 |
76.740 |
421 |
0,15 |
52,82 |
|
Tổng |
805.235 |
3.890 |
808.781 |
4.284 |
0,44 |
10,12 |
|
(Nguồn: Hải quan Trung Quốc) |
||||||
|
Nhập khẩu Tôm của Trung Quốc theo nguồn cung, T1-T10/2025 |
||||||||
|
Quốc gia |
T1-T10/2024 |
T1-T10/2025 |
Tăng, giảm (%) |
Thị phần (%) |
||||
|
KL (tấn) |
GT (triệu USD) |
KL (tấn) |
GT (triệu USD) |
KL |
GT |
Thị phần 2024 |
Thị phần 2025 |
|
|
Ecuador |
553.942 |
2.435 |
550.135 |
2.664 |
-0,69 |
9,41 |
62,59 |
62,18 |
|
Ấn Độ |
113.192 |
572 |
114.539 |
664 |
1,19 |
15,99 |
14,72 |
15,50 |
|
Thái Lan |
20.252 |
206 |
22.452 |
235 |
10,86 |
14,32 |
5,28 |
5,49 |
|
Argentina |
13.007 |
100 |
14.549 |
117 |
11,86 |
16,87 |
2,57 |
2,73 |
|
Canada |
20.820 |
109 |
21.683 |
99 |
4,14 |
-9,43 |
2,81 |
2,31 |
|
Greenland |
17.049 |
95 |
14.735 |
79 |
-13,57 |
-17,48 |
2,45 |
1,84 |
|
Việt Nam |
13.635 |
68 |
16.013 |
73 |
17,44 |
7,32 |
1,74 |
1,70 |
|
Nga |
3.424 |
56 |
3.761 |
63 |
9,84 |
13,47 |
1,44 |
1,48 |
|
Indonesia |
7.510 |
42 |
9.638 |
55 |
28,34 |
31,48 |
1,08 |
1,28 |
|
Khác |
42.405 |
207 |
41.277 |
235 |
-2,66 |
13,58 |
5,33 |
5,49 |
|
Tổng |
805.235 |
3.890 |
808.781 |
4.284 |
0,44 |
10,12 |
100,00 |
100,00 |
|
(Nguồn: Hải quan Trung Quốc) |
||||||||
|
Nhập khẩu Tôm của Trung Quốc từ Ấn Độ, T1-T10/2025 |
||||||
|
Tháng |
T1-T10/2024 |
T1-T10/2025 |
Tăng, giảm (%) |
|||
|
KL (tấn) |
GT (triệu USD) |
KL (tấn) |
GT (triệu USD) |
KL |
GT |
|
|
T1 |
12.727 |
64 |
10.105 |
65 |
-20,60 |
1,23 |
|
T2 |
9.392 |
46 |
5.909 |
36 |
-37,08 |
-22,64 |
|
T3 |
8.755 |
44 |
7.093 |
40 |
-18,99 |
-9,25 |
|
T4 |
11.329 |
58 |
10.080 |
54 |
-11,02 |
-6,14 |
|
T5 |
12.598 |
65 |
14.088 |
75 |
11,83 |
15,43 |
|
T6 |
11.369 |
59 |
14.522 |
81 |
27,73 |
37,46 |
|
T7 |
15.630 |
81 |
14.570 |
81 |
-6,78 |
-0,65 |
|
T8 |
12.963 |
67 |
10.357 |
58 |
-20,10 |
-12,80 |
|
T9 |
9.505 |
50 |
13.877 |
85 |
45,99 |
70,46 |
|
T10 |
8.924 |
37 |
13.937 |
88 |
56,18 |
136,45 |
|
Tổng |
113.192 |
572 |
114.539 |
664 |
1,19 |
15,99 |
|
Nhập khẩu Tôm của Trung Quốc từ Thái Lan, T1-T10/2025 |
||||||
|
|
T1-T10/2024 |
T1-T10/2025 |
Tăng, giảm (%) |
|||
|
Tháng |
KL (tấn) |
GT (triệu USD) |
KL (tấn) |
GT (triệu USD) |
KL |
GT |
|
T1 |
3.082 |
33 |
2.095 |
21 |
-32,04 |
-36,41 |
|
T2 |
1.894 |
21 |
1.368 |
15 |
-27,76 |
-29,40 |
|
T3 |
2.010 |
21 |
2.220 |
23 |
10,44 |
6,40 |
|
T4 |
2.887 |
31 |
2.105 |
21 |
-27,09 |
-31,15 |
|
T5 |
1.697 |
17 |
2.063 |
22 |
21,57 |
31,58 |
|
T6 |
1.505 |
15 |
2.513 |
27 |
66,99 |
76,70 |
|
T7 |
1.098 |
11 |
2.401 |
26 |
118,63 |
128,12 |
|
T8 |
2.070 |
21 |
2.633 |
28 |
27,22 |
32,73 |
|
T9 |
1.823 |
19 |
2.845 |
29 |
56,06 |
50,97 |
|
T10 |
2.186 |
15 |
2.209 |
23 |
1,07 |
48,91 |
|
Tổng |
20.252 |
206 |
22.452 |
235 |
10,86 |
14,32 |
|
Nhập khẩu Tôm của Trung Quốc từ Ecuador, T1-T10/2025 |
||||||
|
|
T1-T10/2024 |
T1-T10/2025 |
Tăng, giảm (%) |
|||
|
Tháng |
KL (tấn) |
GT (triệu USD) |
KL (tấn) |
GT (triệu USD) |
KL |
GT |
|
T1 |
72.432 |
323 |
50.995 |
271 |
-29,60 |
-15,84 |
|
T2 |
42.233 |
187 |
49.112 |
251 |
16,29 |
33,89 |
|
T3 |
55.695 |
253 |
50.678 |
246 |
-9,01 |
-2,88 |
|
T4 |
47.099 |
214 |
52.295 |
244 |
11,03 |
14,05 |
|
T5 |
50.129 |
226 |
52.055 |
245 |
3,84 |
8,56 |
|
T6 |
63.050 |
286 |
64.793 |
306 |
2,76 |
6,93 |
|
T7 |
59.972 |
273 |
69.330 |
329 |
15,60 |
20,40 |
|
T8 |
60.868 |
277 |
65.655 |
314 |
7,86 |
13,59 |
|
T9 |
49.956 |
227 |
46.850 |
222 |
-6,22 |
-2,39 |
|
T10 |
52.507 |
168 |
48.371 |
235 |
-7,88 |
39,65 |
|
Tổng |
553.942 |
2.435 |
550.135 |
2.664 |
-0,69 |
9,41 |
Thưa bà con cô bác, Tết nay em vô cùng sung sướng và biết ơn vì sau bao năm sống trong nhiều thị phi và chờ đợi, cuối cùng em cũng được người thương xây biểu tượng của em ở thủ phủ cá tra Hồng Ngự - Đồng Tháp như người anh em họ da trơn Basa của em đã từng được tôn vinh 14 năm trước bên Châu Đốc - An Giang. Vì quá cảm kích và vui mừng với sự kiện này, em mạn phép trở lại có đôi lời tâm sự đầu năm cùng với bà con cô bác.
(vasep.com.vn) Kết quả quan trắc môi trường mới nhất tại các vùng nuôi tôm trọng điểm ở Hà Tĩnh cho thấy phần lớn các chỉ tiêu chất lượng nước hiện nằm trong ngưỡng phù hợp cho nuôi tôm nước lợ. Tuy nhiên, ngành chuyên môn khuyến cáo người nuôi không chủ quan trước tác động của thời tiết nắng nóng kéo dài.
(vasep.com.vn) Ngày 2/6, Thống đốc bang São Paulo Tarcísio de Freitas đã ký sắc lệnh áp thuế đối với phi lê cá rô phi nhập khẩu từ Việt Nam khi vào thị trường bang này. Quyết định được công bố cùng Nghị sĩ Itamar Borges, Bộ trưởng Nông nghiệp Geraldo Melo và Bộ trưởng Tài chính Samuel Kinoshita, đánh dấu bước đi mới trong nỗ lực bảo vệ ngành nuôi cá rô phi nội địa của Brazil.
(vasep.com.vn) Từ đầu năm 2025 đến nay, giá tôm giống tại Việt Nam duy trì ổn định nhưng ở mặt bằng cao hơn so với các năm trước, tạo áp lực đáng kể lên chi phí sản xuất của người nuôi và doanh nghiệp.
(vasep.com.vn) Trước nguy cơ dịch bệnh gia tăng trong điều kiện thời tiết thất thường, nhiều địa phương đang đẩy mạnh các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh từ sớm đối với thủy sản và vật nuôi.
(vasep.com.vn) Bước sang tháng 6/2026, một loạt các doanh nghiệp sản xuất thức ăn thủy sản phát thông báo nâng giá bán thức ăn tôm lên mức từ 1.200 – 1.500 đồng/kg. Đây là lần tăng giá thứ ba của các doanh nghiệp trong năm.
(vasep.com.vn) Bất ổn tại Trung Đông đang lan sang chuỗi cung ứng dầu mỏ, hóa dầu và hạt nhựa, kéo giá bao bì nhựa tăng mạnh trong những tháng gần đây. Với doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản, đây là một áp lực chi phí đầu vào đáng chú ý, nhất là trong bối cảnh đơn hàng cạnh tranh gay gắt, giá bán khó điều chỉnh tương ứng với biến động chi phí đầu vào.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu cá tra Việt Nam đang ghi nhận tín hiệu phục hồi tích cực trong năm 2026. Lũy kế 4 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt 720 triệu USD, tăng 17% so với cùng kỳ. Kết quả này cho thấy nhu cầu tại nhiều thị trường đang dần cải thiện, đồng thời phản ánh nỗ lực duy trì sản xuất, giữ đơn hàng và thích ứng thị trường của các doanh nghiệp cá tra Việt Nam.
(vasep.com.vn) Kết luận điều tra của Mỹ không phản ánh đúng thực tế và nỗ lực của Việt Nam trong phòng ngừa giảm thiểu lao động cưỡng bức.
(vasep.com.vn) NOAA Fisheries của Mỹ đang lấy ý kiến công chúng về đề xuất mở rộng áp dụng nhật ký khai thác điện tử đối với các tàu cá thương mại hoạt động tại Vịnh Mexico và khu vực Nam Đại Tây Dương.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn