Tóm tắt cam kết của Việt Nam trong Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam - Nhật Bản (EPA)

Việt Nam - Nhật Bản 10:47 26/08/2013

Danh mục cam kết

Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản (EPA) bắt đầu đàm phán từ năm 2007. Sau 9 phiên đàm phán chính thức, hai bên đã ký kết Hiệp định EPA vào ngày 25/12/2008. Cũng như Hiệp định AJCEP, đây cũng là một Hiệp định kinh tế toàn diện cả về thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và hợp tác kinh tế.

Về mức cam kết chung, trong vòng 10 năm kể từ khi thực hiện Hiệp định, Việt Nam cam kết tự do hoá đối với khoảng 87,66% kim ngạch thương mại và Nhật Bản cam kết tự do hoá đối với 94,53% kim ngạch thương mại. Vào năm cuối của Lộ trình giảm thuế tức là sau 16 năm thực hiện Hiệp định, Việt Nam cam kết tự do hoá đối với 92,95% kim ngạch thương mại.

Biểu cam kết của Việt Nam bao gồm 9.390 dòng thuế (dựa trên AHTN 2007), trong đó đưa vào lộ trình cắt giảm đối với 8.873 dòng. Số dòng còn lại là các dòng thuế CKD ô tô và các dòng thuế không cam kết cắt giảm, cụ thể:

- Danh mục xoá bỏ thuế quan: Việt Nam kết xoá bỏ thuế quan đối với 75,2% số dòng thuế trong vòng 10 năm, trong đó xoá bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực đối với 27,5% dòng thuế và xoá bỏ thuế quan sau 10 năm thực hiện Hiệp định (năm 2019) đối với 40,3% dòng thuế. Vào năm 2021, 2024 và 2025 (sau 12 năm, 15 năm và 16 năm thực hiện Hiệp định) cam kết xoá bỏ 0,1%, 14,9% và 0,8% số dòng thuế tương ứng.

Như vậy, trong cả lộ trình thực hiện giảm thuế, số dòng thuế được xoá bỏ thuế quan chiếm khoảng 91% số dòng thuế trong toàn Biểu cam kết.

- Danh mục nhạy cảm thường, chiếm 0,6% số dòng thuế, được duy trì ở mức thuế suất cơ sở và xuống 5% vào năm 2024/2006.

- Danh mục nhạy cảm cao, chiếm 0,8% số dòng thuế, được duy trì mức thuế suất cao (giảm xuống 50% vào năm 2025).

- Danh mục không xoá bỏ thuế quan, thuế suất duy trì ở mức thuế suất cơ sở trong cả lộ trình chiếm 2% số dòng thuế, hoặc duy trì ở mức thuế suất cơ sở và được đàm phán sau 5 năm thực hiện Hiệp định chiếm 0,02%.

- Danh mục loại trừ chiếm 4,6% số dòng thuế.

Thống kê Danh mục cam kết của Việt Nam trong EPA

 

Phân loại

 

Tỷ lệ kim ngạch (%)

Danh mục xóa bỏ thuế quan

Trong vòng 10 năm

87,6

Trong vòng 12 năm

2,00

Trong vòng 15 năm

2,8

Trong vòng 16năm

0,5

Tổng

92,9

Danh mục nhạy cảm-không xóa bỏ thuế quan

Thuế giảm xuống 5% vào năm 2023

0,5

Thuế giảm xuống 5% vào năm 2026

1,8

Thuế giảm xuống 50% vào năm 2024

0,1

T/suất giữ nguyên mức t/suất cơ sở

3,2

T/suất giữ nguyên mức t/suất cơ sở và được đàm phán lại sau  5 năm

0,0

Tổng

5,6

Danh mục loại trừ

Không cam kết

1,5

Danh mục CKD ô tô

Không cam kết

0,0

Tổng

100

 

Danh mục phân loại trên được phân tích theo số liệu trong Biểu cam kết của Việt Nam dựa trên AHTN 2007 và theo kim ngạch nhập khẩu từ Nhật Bản năm 2008.

Mức thuế suất cam kết:

Lộ trình giảm thuế của Việt Nam trong Hiệp định EPA sẽ bắt đầu từ năm 2009 và kết thúc vào năm 2026. Các mặt hàng được cắt giảm xuống 0% tập trung vào các năm 2019 và 2025. Về diện mặt hàng, các mặt hàng được xoá bỏ thuế quan chủ yếu là các mặt hàng công nghiệp.

Nhìn vào bảng phân tán số dòng thuế được số bỏ thuế quan theo ngành có thể thấy: vào năm 2009 (năm dự kiến Hiệp định có hiệu lực) có khoảng 2.586 dòng thuế được xoá bỏ thuế quan, trong đó các mặt hàng công nghiệp chiếm đến khoảng 94,5%, còn lại là các mặt hàng nông nghiệp. Sau 10 thực hiện Hiệp định (năm 2019) có khoảng 6.996 số dòng thuế được xoá bỏ thuế quan, trong đó các mặt hàng công nghiệp chiếm khoảng 90,1%. Đến năm 2025, tổng số dòng thuế được xoá bỏ thuế quan lên đến 8.548 dòng, các mặt hàng công nghiệp chiếm 95,1% số dòng thuế. Số dòng thuế được xoá bỏ thuế quan tập trung vào các ngành máy móc thiết bị điện, máy móc cơ khi, hoá chất, kim loại, diệt may và sản phẩm nông nghiệp.

Bảng phân tán số dòng thuế được xoá bỏ thuế quan theo ngành của Việt Nam trong Hiệp định EPA

 

Ngành

2009

2019

2025

1. Nông nghiệp

134

592

157

2. Cá và sản phẩm cá

6

45

262

3. Dầu khí

-

9

9

4. Gỗ và sản phẩm gỗ

86

426

502

5. Dệt may

59

893

1378

6. Da và cao su

23

167

899

7. Kim loại

281

863

601

8. Hoá chất

696

1280

965

9. Thiết bị vận tải

85

222

360

10. Máy móc cơ khí

220

628

731

11. Máy và thiết bị điện

709

1.160

1.283

12. Khoáng sản

54

274

1.129

13. Hàng chế tạo khác

233

437

272

Tổng

2.586

6.996

8.548     

Thuế suất áp dụng cho từng giai đoạn trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt Việt Nam-Nhật Bản (Biểu EPA) hầu hết được cắt giảm theo mô hình cắt giảm dần đều từ thuế suất cơ sở hoặc có mô hình cắt giảm riêng đối với những dòng thuế thuộc danh mục nhạy cảm (áp dụng thuế suất cơ sở trong cả lộ trình, giảm từ thuế suất cơ sở xuống 5% (2024/2026) hoặc 50% (2025)…. Chính vì vậy, mức thuế suất bình quân áp dụng cho cả Biểu EPA theo từng năm trong Lộ trình có chiều hướng giảm dần.

2.  Các cam kết trong Thương mại dịch vụ

Nhìn chung, mức cam kết chi tiết Việt Nam đưa ra trong VJEPA hầu như không khác với cam kết gia nhập WTO. Chỉ có sự khác biệt trong phần quy định chung về chương dịch vụ trong cả Hiệp định VJEPA trong đó đáng chú ý có một số điểm mới liên quan đến các định nghĩa, mức độ bảo hộ cạnh tranh (trong dịch vụ viễn thông...)

3.  Cam kết trong lĩnh vực lao động

Ngoài các cam kết theo WTO, hai bên đồng ý tiếp nhận khách kinh doanh, nhận y tá nếu đáp ứng đủ điều kiện theo yêu cầu luật pháp của nước tiếp nhận trong thời hạn 3 năm và có thể được gia hạn.

Ngoài ra, Nhật bản còn chấp nhận:

1.   Dành khoản vay ODA lãi suất ưu đãi cho Việt nam đào tạo mỗi năm 200- 300 y tá Việt Nam tại Nhật bản và cho phép y tá đào tạo tại Nhật bản được làm việc lâu dài (tới 7 năm) tại Nhật bản;

2.   Hỗ trợ xây dựng hệ thống kiểm định tay nghề cho Việt Nam, trong đó có nghề y tá, hộ lý; hỗ trợ xây dựng hệ thống cấp chứng chỉ cho nghề y tá, hộ lý;

3.   Trong trong vòng 1 năm kể từ khi ký kết EPA, sẽ nối lại đàm phán về di chuyển lao động với Việt Nam để cải thiện điều kiện tiếp cận thị trường cho y tá, hộ lý và các ngành nghề khác.

Như vậy, trong các FTA mà Việt Nam tham gia, các cam kết về lao động chủ yếu liên quan đến phương thức 4, di chuyển thể nhân (Mode 4) trong thương mại dịch vụ. Việc đàm phán và mức độ cam kết nói chung dựa trên nền cam kết trong WTO với một số bổ sung không lớn. Những kết quả đạt được trong đàm phán về di chuyển lao động nói chung còn rất khiêm tốn, việc triển khai thực hiện các cam kết đã đạt được vẫn còn có nhiều thách thức phía trước.

 

TIN MỚI CẬP NHẬT

Alaska đẩy mạnh quảng bá surimi cá minh thái tại châu Âu

 |  07:36 19/09/2026

(vasep.com.vn) Viện Tiếp thị Thủy sản Alaska (ASMI) đang triển khai chiến dịch toàn châu Âu nhằm nâng cao nhận biết và cải thiện hình ảnh surimi cá minh thái Alaska (Gadus chalcogrammus), tập trung vào chất lượng, dinh dưỡng, tính tiện lợi và nguồn gốc khai thác tự nhiên.

Mời tham dự Diễn đàn Đối tác công tư (PPP) thúc đẩy Kinh tế Tuần hoàn ngành Tôm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

 |  18:24 18/09/2026

Nhằm thúc đẩy hợp tác công tư, huy động nguồn lực và tăng cường liên kết giữa các bên trong phát triển ngành tôm theo hướng bền vững và kinh tế tuần hoàn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thông qua Đối tác Phát triển bền vững nông nghiệp Việt Nam (PSAV), phối hợp với Hội đồng Ngũ cốc và Sinh phẩm Hoa Kỳ (USGBC) tổ chức Diễn đàn Đối tác công tư (PPP) thúc đẩy Kinh tế tuần hoàn ngành Tôm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Xuất khẩu thủy sản Nhật Bản tháng 7 giảm mạnh về lượng, tăng về giá trị

 |  07:43 18/09/2026

(vasep.com.vn) Xuất khẩu thủy sản của Nhật Bản trong tháng 7/2026 ghi nhận diễn biến trái chiều khi sản lượng giảm mạnh nhưng giá trị vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước. Theo số liệu thương mại của Bộ Tài chính Nhật Bản, tổng lượng thủy sản xuất khẩu, gồm thủy sản tươi sống, sản phẩm chế biến và bột cá, đạt 38.597 tấn, giảm 35%, trong khi kim ngạch đạt 30,53 tỷ yên, tăng 15%.

Cảng New Mangalore (Ấn Độ) bốc dỡ 3.000 tấn bột cá rời

 |  07:42 18/09/2026

(vasep.com.vn) Cơ quan quản lý cảng New Mangalore (NMPA) vừa xử lý thành công lô hàng bột cá xuất khẩu lên tới 3.000 tấn. Toàn bộ lô hàng được đóng trong các bao jumbo và bốc xếp lên tàu MV CHRISTINA tại Cầu cảng số 4.

Tối ưu hóa dinh dưỡng: Chìa khóa nâng cao lợi nhuận cho ngành nuôi cá tra 

 |  07:40 18/09/2026

(vasep.com.vn) Chi phí thức ăn hiện chiếm từ 60% đến 85% tổng chi phí sản xuất tại các trại nuôi cá tra ở Nam Á và Đông Nam Á. Với vị thế là khu vực sản xuất cá da trơn lớn nhất thế giới—trong đó Việt Nam dẫn đầu với 1,75 triệu tấn vào năm 2023, chiếm 51% tổng sản lượng toàn cầu—việc cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) đóng vai trò quyết định giúp nhà nông bảo đảm và gia tăng lợi nhuận. 

Hạ viện Mỹ thông qua dự luật tăng cường chống khai thác và buôn bán cá ngừ và cá hồng bất hợp pháp

 |  09:21 17/09/2026

(vasep.com.vn) Ngày 14/9/2026, Hạ viện Mỹ đã thông qua dự luật "Thực thi chống đánh bắt Cá hồng và Cá ngừ bất hợp pháp" (Illegal Red Snapper and Tuna Enforcement Act) lên Tổng thống Donald Trump để ký ban hành thành luật.

Ngành tôm đối mặt nguy cơ thiếu 400.000 tấn nguyên liệu biển vào năm 2028

 |  08:15 17/09/2026

(vasep.com.vn) Nhu cầu đối với các nguyên liệu biển dùng để sản xuất bột cá và dầu cá tiếp tục tăng, trong khi nhiều dấu hiệu đang cho thấy ngành nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm, có thể phải đối mặt với một khoảng thiếu hụt nguồn cung đáng kể trong những năm tới.

Đức trở thành trung tâm đổi mới công nghệ nuôi cá hiện đại

 |  08:14 17/09/2026

(vasep.com.vn) Đức đang nổi lên như một trung tâm đổi mới quan trọng trong lĩnh vực nuôi cá hiện đại, dù sản lượng thủy sản nuôi trong nước còn tương đối khiêm tốn. Theo báo cáo mới nhất của Hatch Blue, khoảng 90% thủy sản tiêu thụ tại Đức hiện phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu.

Cá minh thái được định hướng phát triển thành thực phẩm dành cho trẻ em

 |  08:14 17/09/2026

(vasep.com.vn) Hiệp hội Cá minh thái và Viện Nghiên cứu Thực phẩm dành cho Trẻ em thuộc Trung tâm Nghiên cứu Liên bang về Dinh dưỡng và Công nghệ sinh học Nga vừa ký thỏa thuận hợp tác bên lề Diễn đàn Kinh tế Phương Đông (EEF), nhằm phát triển các dòng sản phẩm từ cá dành cho trẻ em.

VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM

Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội

Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO

Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu

Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn

Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh

Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn

VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội

Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn

© Copyright 2020 - Mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận bằng văn bản của VASEP

DANH MỤC