Ngưỡng tối đa chỉ tiêu phospho trong nước thải chế biến thuỷ sản sau xử lý quá nghiêm ngặt so với đặc thù ngành
Từ năm 2016, VASEP đã nhiều lần phản ánh về vướng mắc tại quy định chỉ tiêu Phospho, Nito và Amoni, đặc biệt là chỉ tiêu Phospho, trong QCVN nước thải sau xử lý của nhà máy chế biến thuỷ sản (QCVN 11-MT:2015).
Ngưỡng chỉ tiêu phospho trong nước thải chế biến thủy sản (CBTS) sau xử lý (QCVN 11-MT:2015) là khá nghiêm ngặt.
Suốt 6 năm và cho tới tận thời điểm này, với đặc thù ngành nghề chế biến thủy sản, rất nhiều nhà máy khó có thể đáp ứng được quy định. Chỉ tiêu Phospho chỉ cho phép là 20 ppm (cột B) và 10ppm (cột A) mà hàng năm nhiều nhà máy thuỷ sản bị thanh, kiểm tra đều bị vi phạm (từ 1,5-3 lần, thậm chí cao hơn) và bị phạt vi phạm hành chính, kèm các rủi ro phát sinh rất lớn khác là đối mặt với nguy cơ bị đình chỉ xuất khẩu, ở cả cấp độ DN và cấp độ quốc gia nếu khách hàng nước ngoài có được các thông tin. Nhiều năm qua qua, VASEP đã các báo cáo, kiến nghị sửa đổi ngưỡng phospho lên 40ppm.
Hiện nay, Tổng cục Môi trường (Bộ TN-MT) đang lấy ý kiến các bên cho dự thảo QCVN mới về nước thải công nghiệp. Dự thảo này sẽ thay thế cả cho QCVN 40 (nước thải công nghiệp) và QCVN 11 (nước thải chế biến thủy sản), đưa nước thải chế biến thủy sản vào chung QCVN nước thải công nghiệp. Và đặc biệt, các chỉ tiêu trong Dự thảo này đang ngặt nghèo hơn QCVN 11-MT:2015/BTNMT rất nhiều: Phospho chỉ từ 4-6 mg/l, Nitơ chỉ từ 20-40 mg/l, Amoni chỉ từ 5-10 mg/l. Điều này đang thực sự gây ra quan ngại rất lớn cho cộng đồng DN chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam hiện nay.
Áp chỉ tiêu của QCVN 40:2011/BTNMT cho ao nuôi tôm, cá là rất khắt khe
Do Bộ TN-MT chưa ban hành QCVN riêng cho nước thải nuôi trồng thủy sản nên tất cả các đánh giá tác động môi trường của các dự án xây dựng các trại nuôi thủy sản cũng như việc kiểm soát nguồn nước đầu ra của các ao nuôi đang được các cơ quan quản lý tài nguyên môi trường yêu cầu áp dụng QCVN 40:2011/BTNMT về nước thải công nghiệp. Các chỉ tiêu tại QCVN này rất khắt khe và rất khó để các ao nuôi tôm, cá đạt được, đồng thời cũng không phù hợp với điều kiện thực tế của các trại nuôi.
Vấn đề này đang tạo nên áp lực rất lớn về công tác xử lý nước thải đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản. Dự thảo QCVN mới về nước thải công nghiệp, với các chỉ tiêu còn nghiêm ngặt hơn cả QCVN 40:2011, vẫn sẽ dự kiến tiếp tục được áp dụng cho nước thải của các ao nuôi thủy sản càng gây thêm khó khăn và bất khả thi cho việc tuân thủ của các trại nuôi.
Những khó khăn này kéo dài suốt 6 năm, các DN thủy sản đã gắng sức thay đổi công nghệ để tuân thủ nhưng dường như cho tới nay những yêu cầu khắt khe này vẫn “bất khả thi”, do đó, VASEP một lần nữa kiến nghị Bộ TN-MT xem xét điều chỉnh, sửa đổi Dự thảo QCVN mới về nước thải theo 5 nội dung lớn:
(1) Không gộp nước thải chế biến thủy sản vào Dự thảo QCVN công nghiệp chung nhiều ngành nghề khác nhau, tiếp tục thực hiện QCVN riêng cho chế biến thủy sản do yếu tố đặc thù của ngành như đã thực hiện riêng trong suốt hơn 20 năm qua.
Để hài hòa việc phát triển kinh tế và giữ sạch môi trường cần theo một lộ trình nhất định, trước mắt trong thời điểm hiện tại chúng tôi kiến nghị chỉ nên so sánh, tham khảo các chỉ tiêu về môi trường với những quốc gia có điều kiện phát triển kinh tế tương đồng (như Thái Lan hoặc Indonesia); không nên lấy tham khảo các chỉ tiêu từ các nước phát triển và không tập trung vào sản xuất hàng hoá lớn như Việt Nam – quốc gia đang phát triển. Được như vậy mới có được sự cạnh tranh công bằng cho Việt Nam trên thị trường quốc tế mà thuỷ sản là một lĩnh vực mũi nhọn của đất nước chịu tác động lớn của vấn đề này.
(2) Nâng ngưỡng cho phép của chỉ tiêu phospho lên mức 40ppm (cột B) và 30ppm (cột A) để phù hợp với điều kiện thực tế của DN chế biến thủy sản Việt Nam cũng như thông lệ quốc tế các nước trong khu vực; sau khi hết lộ trình áp dụng 10 năm (đến 2031) như kiến nghị mục (3) dưới đây thì đưa ngưỡng phospho về mức 20ppm;
(3) Áp dụng lộ trình thực hiện 10 năm cho QCVN mới theo thông lệ quốc tế (như trường hợp của Mỹ và một số nước là 10 năm) để có thời gian cho phép DN chuyển đổi công nghệ, đầu tư và nâng cấp hệ thống xử lý nước thải của nhà máy.
(4) Giữ nguyên ngưỡng kiểm soát của Amoni và Ni-tơ như trong QCVN 11-MT:2015
(5) Đưa trại, ao nuôi thuỷ sản vào phạm vi điều chỉnh của Dự thảo QCVN 62:2021/BTNMT (nước thải chăn nuôi), và thuộc Cột B của cơ sở phải đăng ký môi trường.
Tạ Hà – Hoàng Yến
(vasep.com.vn) Các quốc gia Caribe đang tăng cường quản lý không gian biển, chống khai thác bất hợp pháp và cải thiện khả năng truy xuất nguồn gốc thủy sản trong bối cảnh nguồn lợi nghề cá khu vực chịu áp lực ngày càng lớn.
(vasep.com.vn) C.Vale đã hoàn tất quá trình kiểm toán và trở thành doanh nghiệp đầu tiên tại Brazil đạt chứng nhận Tiêu chuẩn Thức ăn Chăn nuôi của ASC, đánh dấu bước tiến mới trong việc thúc đẩy sản xuất cá rô phi bền vững tại nước này.
(vasep.com.vn) Dự báo thiếu hụt nguồn cung bột cá truyền thống đang thúc đẩy ngành nuôi trồng thủy sản và thức ăn chăn nuôi tìm kiếm các nguồn protein thay thế, trong đó có protein từ côn trùng. Tuy nhiên, dù nhận được đầu tư và hỗ trợ chính sách, ngành này vẫn chưa đưa được chi phí sản xuất xuống mức đủ cạnh tranh với bột cá.
(vasep.com.vn) Công ty TNHH Thanh Tùng Vân Đồn đang từng bước đưa công nghệ enzyme vào chế biến thủy sản, trước mắt với sản phẩm chả mực và nước mắm, nhằm nâng chất lượng sản phẩm, rút ngắn thời gian chế biến và mở rộng khả năng thương mại hóa.
(vasep.com.vn) Thị trường thay đổi, nhu cầu người mua dịch chuyển và các rào cản thương mại ngày càng phức tạp đang đặt ra một câu hỏi lớn cho ngành thủy sản Việt Nam: Đâu sẽ là dư địa tăng trưởng mới trong giai đoạn 2027–2029?
Năm 2026 là năm đầu tiên Cảng Thương mại tự do Hải Nam triển khai cơ chế quản lý hải quan khép kín trên toàn đảo. Các chính sách như “thuế suất 0%”, miễn thuế đối với hàng hóa đáp ứng yêu cầu gia công làm tăng ít nhất 30% giá trị, kết hợp với quy tắc cộng gộp xuất xứ khu vực của RCEP, sẽ củng cố lợi thế của Hải Nam trong lưu chuyển các yếu tố sản xuất xuyên biên giới, thuận lợi hóa thương mại, chế biến giá trị gia tăng và hợp tác công nghiệp khu vực.
(vasep.com.vn) Mùa khai thác cá tuyết phương Bắc (Gadus morhua) tại vùng biển ven bờ Newfoundland và Labrador, Canada, đang đi đến giai đoạn cuối. Đến tuần này, khoảng 95% hạn ngạch đã được khai thác. Đây là mùa khai thác thương mại trọn vẹn đầu tiên sau khi Bộ Thủy sản và Đại dương Canada (DFO) nâng tổng sản lượng khai thác cho phép (TAC) lên 59.000 tấn vào tháng 6/2026.
(vasep.com.vn) Giá nguyên liệu surimi tăng đang tạo sức ép lên các sản phẩm chả cá và thực phẩm chế biến từ cá tại Nhật Bản, trong bối cảnh nguồn cung cá minh thái Alaska thắt chặt và nhu cầu thanh cua (kanikama) trên thị trường quốc tế gia tăng.
(vasep.com.vn) NRGene Canada, doanh nghiệp sản xuất ruồi lính đen (BSF) tại Saskatchewan, Canada, và Công ty chế biến, đóng gói thủy sản Ile-a-la-Crosse Fish Company đã hợp tác phát triển công thức thức ăn cho gia cầm mang tên “MaxBSF”, sử dụng phụ phẩm từ quá trình chế biến cá làm nguyên liệu nuôi ấu trùng BSF.
(vasep.com.vn) Na Uy xuất khẩu thủy sản trị giá 17,8 tỷ NOK trong tháng 9/2026, gần như không thay đổi so với cùng kỳ năm trước, giảm nhẹ 27 triệu NOK. Kết quả này diễn ra trong bối cảnh xuất khẩu cá hồi đạt mức sản lượng cao nhất từ trước đến nay trong một tháng, trong khi đồng NOK mạnh lên và xuất khẩu một số loài khai thác tự nhiên giảm.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn