Con tôm ôm cây lúa: gợi ý cho bài toán xâm nhập mặn

Nguyên liệu 09:46 23/03/2021 Nguyễn Trang
Trong bối cảnh người nông dân đang ồ ạt chuyển sang mô hình luân canh tôm - lúa một cách tự phát, thậm chí là ‘quá độ’ hẳn sang chuyên tôm vì hiệu quả kinh tế cao hơn, các nhà khoa học thuộc Đại học Cần Thơ đã quyết định tìm hiểu về tác động thực sự của những mô hình nuôi trồng này với mong muốn đưa ra các khuyến nghị phù hợp.

Mô hình tôm – lúa có thể hiểu là người nông dân nuôi tôm vào mùa khô – thời điểm không có đủ nước ngọt cho lúa và ruộng bị nhiễm mặn, sau đó khi mùa mưa tới thì người dân sẽ rửa mặn để tiến hành trồng lúa. “Đây được xem là một hệ thống bền vững. Cây lúa có thể xử lý môi trường giúp nuôi tôm thuận lợi hơn, và nuôi tôm giúp người nông dân thích ứng được với điều kiện khi không có nước tưới và nhiễm mặn, đồng thời người dân cũng có thu nhập cho mùa khô”, PGS.TS Châu Minh Khôi, Phó trưởng khoa Nông nghiệp Đại học Cần Thơ, giải thích.

Hiện mô hình lúa - tôm càng xanh đang là hướng đi bền vững cho bà con nông dân trên địa bàn huyện.

Tình hình xâm nhập mặn ở ĐBSCL diễn ra ngày càng khắc nghiệt. Việc chuyển đổi hệ thống cây trồng và vật nuôi ở những vùng ven biển là một việc tất yếu nhằm thích ứng với xâm nhập mặn. “Trước đây, các tỉnh cũng đã manh nha triển khai luân canh tôm – lúa, nhưng từ khi vấn đề xâm nhập mặn diễn ra thì việc chuyển đổi diễn ra mạnh hơn”, ông cho biết.

Dù đã có nhiều nghiên cứu về tác động kinh tế của mô hình này, nhưng dường như các nghiên cứu về tác động của mô hình đến chất lượng đất về lâu dài thì lại ‘vắng bóng’. Nếu không có một nghiên cứu cụ thể nào thì rất khó để đưa ra kết luận rằng mô hình tôm – lúa là mô hình ưu việt hơn cả so với những mô hình như chuyên canh lúa và chuyên tôm. Thêm vào đó, trong bối cảnh người dân đang chuyển sang mô hình lúa – tôm ào ạt, cần thiết phải có một nghiên cứu làm cơ sở cho nhà quản lý đưa ra quyết định, trước khi xảy ra những hậu quả không mong muốn. Muốn thế, “chúng ta phải tiến hành những nghiên cứu khoa học về ảnh hưởng của ba mô hình (tôm – lúa, chuyên tôm, chuyên canh lúa) đến chất lượng nước và chất lượng đất, từ đó đề xuất các khuyến nghị phù hợp”, PGS.TS Châu Minh Khôi cho biết.

Chính vì vậy, vào năm 2014, nhóm nghiên cứu của ông đã tham gia vào dự án “Sự thích ứng bền vững của các hệ sinh thái nông nghiệp ven biển đối với hiện tượng xâm nhập mặn gia tăng (DeltAdapt)” do Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Cộng hòa LB Đức (BMBF) tài trợ nhằm đi tìm lời giải cho những thắc mắc của mình, và xa hơn là hướng đến cung cấp các đề xuất giúp nâng cao việc quản lý hệ sinh thái nông nghiệp và thích ứng với xâm nhập mặn cũng như các thách thức có liên quan ở vùng đồng bằng này.

Một mô hình thân thiện với môi trường

“Nhằm đánh giá các tác động tương ứng đối với độ mặn của đất, tình trạng dinh dưỡng và các dạng liên kết của chúng, trước tiên chúng tôi lấy mẫu lớp đất mặt (tầng canh tác, từ 0 đến 15cm) của mười hệ thống chuyên canh lúa và các lớp nền trồng lúa của 10 hệ thống tôm – lúa xen kẽ”, PGS.TS Châu Minh Khôi cho biết. Ngoài ra, các nhà khoa học còn lấy mẫu bùn và đất bên dưới lớp bùn 10cm từ các mương nuôi tôm – lúa xem kẽ và từ các ao của hệ thống chuyên tôm, lần lượt ở các tỉnh Bến Tre và Sóc Trăng, hai tỉnh thường xuyên đối diện với tình trạng ngập mặn nghiêm trọng.

Họ đã tiến hành phân tích độ dẫn điện, các loại chất dinh dưỡng và hàm lượng dinh dưỡng có sẵn trong thực vật của các mẫu. Với mong muốn phát hiện những thay đổi có thể xảy ra trong các dạng liên kết của các chất dinh dưỡng, các nhà khoa học chiết xuất lần lượt lân (P) và lưu huỳnh (S), áp dụng phổ cộng hưởng từ hạt nhân 31P, cấu trúc cận biên của hấp thụ tia X (XANES) lên S và P. Kết quả cho thấy việc canh tác tôm thường xuyên và xen kẽ khiến nồng độ muối tăng cao nhưng cũng giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng của vùng đất trồng lúa, đặc biệt là ở lớp bùn. Quá trình bồi lắng xác tôm và các mảnh vụn thức ăn đã thúc đẩy sự tích lũy các dạng liên kết ổn định của P với Ca- và Mg- cũng như của P-monoester, trong khi các dạng S trong các nhóm thiophene S lại bị nghèo đi. Tuy nhiên, các dạng S vẫn được làm giàu so với ruộng chuyên canh lúa.

“Về mặt tính chất của đất, việc áp dụng mô hình canh tác tôm – lúa xen kẽ dài hạn có nhiều tiềm năng giúp người nông dân duy trì sự linh hoạt trong ứng phó với biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn”, PGS.TS Châu Minh Khôi cho biết. “Dù nhiều địa phương đã dùng cống ngăn mặn để đối phó với xâm nhập mặn thì nước mặn vẫn len lỏi vào trong nội đồng. Trong điều kiện mặn và thiếu nước ngọt như vậy, việc chuyên canh lúa hoặc trồng trọt cây ăn trái trở nên không phù hợp, vì vậy việc kết hợp giữa trồng lúa và nuôi trồng thủy sản là một hướng thông minh để thích ứng với hạn mặn”.

Hệ thống luân canh tôm – lúa ít gây ô nhiễm hóa chất nông nghiệp như thuốc trừ sâu và kháng sinh hơn so với lúa hai vụ và hệ thống tôm thâm canh. Nhìn chung, hệ thống tôm-lúa quảng canh ở ĐBSCL là một trong những hệ thống canh tác có tác dụng tích cực với hệ sinh thái, giúp giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính (N2O - loại khí do sử dụng dư thừa phân đạm trong hệ thống chuyên canh hoá. “Do đó, từ góc độ môi trường, cần khuyến khích hệ thống canh tác này”, ông cho biết thêm.

Có nên mở rộng mô hình tôm – lúa?

Dù có nhiều điểm tích cực về mặt môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, sinh kế của người dân, nhưng không vì thế có mà thể áp dụng tràn lan mô hình tôm – lúa xen kẽ ở mọi vùng tại ĐBSCL. “Ở một số nơi, việc thay đổi hệ thống nông nghiệp có thể làm tình trạng xâm nhập mặn trầm trọng thêm và tác động tiêu cực đến hệ thống canh tác ở những nơi khác. Ví dụ như ở Sóc Trăng, việc tự ý kéo dài thời gian mua tôm trong hệ thống này đã khiến người nông dân không kịp rửa mặn, dẫn đến gia tăng nồng độ mặn trong đất. Chính vì vậy, nếu muốn mở rộng mô hình tôm-lúa, nhà quản lý cần kêu gọi nông dân đảm bảo thời gian muối tôm cho chính xác”, ông Khôi giải thích.

Ngoài ra, sau khi đánh giá khả năng thích nghi của ba hệ thống canh tác trên đối với sự gia tăng xâm nhập mặn dựa trên mức độ nhạy cảm và khả năng phục hồi đất, nhóm nghiên cứu nhận thấy không có hệ thống nào hoàn toàn vượt trội. Rõ ràng “sự thay đổi từ một hệ thống sử dụng đất này sang một hệ thống khác để cải thiện một thành phần thích nghi cụ thể sẽ đi kèm với hệ quả”, ông nhận xét. Vì vậy, nhóm nghiên cứu đề xuất, để hạn chế hệ quả này chính quyền cần hướng dẫn và tạo điều kiện cho người nông dân có thể chuyển đổi sang các hệ thống canh tác khác vào thời gian và địa điểm thích hợp.

Cũng theo ông Khôi, dù mô hình tôm – lúa đã cho thấy những điểm tích cực của nó đối với các vùng xâm nhập mặn, cũng như đa dạng hóa sinh kế cho người dân, “nhưng nếu vì chạy theo lợi nhuận mà chuyển hẳn sang chuyên tôm thì sẽ là một câu chuyện khác”. Một khi đã chuyển đổi mô hình sang chuyên tôm thì rất ít khả năng người nông dân có thể chuyển đổi lại mô hình chuyên canh lúa hoặc tôm – lúa xen kẽ. “Việc nuôi tôm giúp tích tụ dư lượng hữu cơ và chất dinh dưỡng, đặc biệt là nếu ta áp dụng phương pháp quản lý thích hợp (bón vôi, sục khí ao, loại bỏ bùn) nên chuyên canh tôm không khiến suy giảm quá nhiều lượng dinh dưỡng có trong đất. Tuy nhiên, quá trình tích tụ muối và hạ thấp mặt ruộng để tăng diện tích và tăng độ sâu ao lên đến hai mét sẽ cản trở việc trồng lúa sau này, từ đó tạo ra khó khăn khi muốn chuyển đổi sang các hệ thống canh tác khác”, ông lý giải.

Vào thời điểm năm 2014, “quá trình chuyển đổi chưa ồ ạt như bây giờ, người nông dân chỉ mới dừng ở việc chuyển đổi từ chuyên canh lúa sang mô hình tôm – lúa”, PGS Châu Minh Khôi nhớ lại. Tuy nhiên, từ khi người dân nhận ra rằng nuôi tôm có lãi, đạt hiệu quả kinh tế cao thì họ đã tiếp tục chuyển đổi từ lúa – tôm sang chuyên tôm. “Việc chuyển đổi như vậy sẽ làm mặn hóa đất, đất đó sau này sẽ không thể canh tác lúa trở lại được. Ngoài ra, rủi ro do dịch bệnh khi nuôi tôm sẽ cao hơn vì không còn cây lúa lọc sạch môi trường”, ông chia sẻ.

Chính vì vậy, theo ông, nhà nước cần quy hoạch sản xuất hoặc đưa ra chính sách cụ thể để hệ thống lúa – tôm trở nên bền vững và phù hợp, “nếu cứ để người nông dân ‘tự phát’ thì rất khó kiểm soát”.

Điều này tương ứng với nhận xét của GS Võ Tòng Xuân (Hiệu trưởng Đại học Nam Cần Thơ) cách đây nhiều năm: “không ở đâu nông dân tự do như xứ này” khi nhắc đến tình cảnh nông dân cứ thấy sản phẩm làm ra mất giá là thay đổi, lập tức chặt bỏ, trồng cây khác. Việc lựa chọn cây mới hoàn toàn không có ai tư vấn hay dựa trên thông tin thị trường, mà chỉ là mày mò cảm tính. Tuy nhiên, cách phát triển nông nghiệp theo kiểu ‘tự do hoang dã’ của người nông dân giờ đây còn mở rộng sang cách thức nuôi trồng thủy sản thay thế cho cây trồng nông nghiệp.

Chính vì vậy, dù nghiên cứu giữa Đại học Cần Thơ với BMBF đã kết thúc nhưng “chúng tôi vẫn còn rất nhiều điều cần làm”, PGS Châu Minh Khôi chia sẻ. Do đó nhóm nghiên cứu đang tiếp tục tham gia vào một dự án do tổ chức ACIAR (Úc) tài trợ để tìm hiểu về mối quan hệ giữa con tôm và cây lúa. Khi đã tìm ra đáp án cho câu hỏi ‘Mô hình tôm – lúa xen kẽ liệu có tốt không?’ thì giờ đây một câu hỏi khác lại nảy ra: ‘Làm sao để tăng tính bền vững cho mô hình này?’ “Muốn trả lời cho câu hỏi đấy, chúng tôi cần làm rõ vai trò của cây lúa đối với vụ tôm, và vai trò của con tôm đối với vụ lúa. Hay nói cách khác, chúng giúp được gì cho nhau, nhất là trong bối cảnh xâm nhập mặn đang diễn ra ngày càng trầm trọng như hiện nay”, ông gợi mở về hướng nghiên cứu tiếp theo này.

(Theo KH&PT)

con tom om cay lua xam nhap man tom nguyen lieu tom lua

TIN MỚI CẬP NHẬT

TIN BUỒN: Cụ ông Trần Cao Đại - Thân sinh Chị Trần Hoàng Yến - Phó Trưởng VP Đại diện VASEP tại Hà Nội, Phó Giám đốc VASEPPro

 |  20:36 11/09/2026

Văn phòng Hiệp hội xin vô cùng thương tiếc báo tin: Cụ Trần Cao Đại - Thân sinh Chị Trần Hoàng Yến - Phó Trưởng VP Đại diện VASEP tại Hà Nội, Phó Giám đốc VASEPPRO, đã từ trần vào hồi 15 giờ 11 ngày 11/09/2026 (tức ngày 01/08 năm Bính Ngọ). Hưởng thọ: 91 tuổi

Gỡ vướng kiểm tra an toàn thực phẩm, tạo thuận lợi cho nhập khẩu thủy sản đông lạnh

 |  16:49 11/09/2026

(vasep.com.vn) Ngày 09/9/2026, Cục Chăn nuôi và Thú y, thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có công văn 3486/CNTY-KD&TYCĐ gửi Cục Hải quan về việc kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm NK đối với thực phẩm có nguồn gốc động vật trên cạn, thuỷ sản. Cục Chăn nuôi và Thú y đề xuất sử dụng kết quả kiểm dịch đối với sản phẩm động vật, thủy sản nhập khẩu làm căn cứ phục vụ thông quan, đồng thời tháo gỡ những bất cập trong thực hiện Nghị định 15/2018/NĐ-CP về kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu. Đây được xem là bước điều chỉnh quan trọng nhằm giảm thủ tục hành chính, hạn chế tình trạng doanh nghiệp phải cung cấp nhiều loại hồ sơ cho cùng một lô hàng.

Thái Lan dự báo sản lượng tôm năm 2026 chỉ đạt khoảng 250.000 tấn

 |  08:14 11/09/2026

(vasep.com.vn) Liên đoàn Nuôi trồng thủy sản Thái Lan dự báo sản lượng tôm của nước này trong năm 2026 chỉ đạt khoảng 250.000 tấn, tương đương năm trước và thấp hơn mục tiêu tăng trưởng của ngành. Theo ông Banjong Nisaphawanich, Chủ tịch Liên đoàn và cố vấn Hiệp hội Tôm Thái Lan, dịch bệnh kéo dài tại các vùng nuôi đang là nguyên nhân chính hạn chế khả năng mở rộng sản xuất.

Xuất khẩu cá hồi lập kỉ lục mới trong tháng 8

 |  08:13 11/09/2026

(vasep.com.vn) Xuất khẩu cá hồi Na Uy đạt 153.602 tấn trong tháng 8, trị giá 12,3 tỷ NOK (1,14 tỷ EUR). Sản lượng tăng 7% so với cùng kỳ năm trước, trong khi giá trị xuất khẩu tăng 19% - tương đương thêm 2 tỷ NOK (186 triệu EUR).

Nam Phi triển khai chiến lược mới bảo vệ chim biển trước tác động của nghề cá

 |  08:12 11/09/2026

(vasep.com.vn) Nam Phi vừa công bố Kế hoạch Hành động Quốc gia II về Bảo tồn và Quản lý Chim biển trong Nghề cá, áp dụng giai đoạn 2026–2030, nhằm giảm tình trạng chim biển chết do mắc phải trong quá trình khai thác thủy sản.

Từ tăng trưởng đến bền vững: Bài toán mới của bột cá Việt Nam

 |  08:11 11/09/2026

(vasep.com.vn) Xuất khẩu bột cá Việt Nam đang tăng mạnh trong năm 2026. Sau khi đạt 281 triệu USD năm 2025, kim ngạch 7 tháng đầu năm nay đã lên gần 244 triệu USD, tăng 72% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, gần 90% giá trị xuất khẩu vẫn tập trung vào Trung Quốc, đặt ra yêu cầu cấp thiết về đa dạng hóa thị trường, chuẩn hóa chất lượng và nâng giá trị sản phẩm.

Indonesia tăng xuất khẩu cá ngừ vây vàng sang Nhật Bản, Mỹ và Singapore

 |  08:07 11/09/2026

(vasep.com.vn) Indonesia đang đẩy mạnh xuất khẩu cá ngừ vây vàng từ các địa phương phía Đông, đồng thời tăng cường kiểm soát chất lượng và an toàn thực phẩm ngay từ khâu khai thác, bảo quản đến chế biến và đóng hàng.

Ngành tôm thế giới bước vào “ván bài” mới

 |  08:52 10/09/2026

(vasep.com.vn) Ngành tôm toàn cầu đang bước vào một giai đoạn mà những yếu tố bên ngoài chuỗi sản xuất ngày càng có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh. Địa chính trị, thương mại, tỷ giá, năng lượng, logistics, biến đổi khí hậu và sự tái cấu trúc tại các quốc gia sản xuất lớn đang cùng lúc định hình lại cuộc chơi.

Xuất khẩu cá minh thái Nga sang Nhật Bản tăng mạnh

 |  08:06 10/09/2026

(vassep.com.vn) Xuất khẩu cá minh thái (pollock) của Nga sang Nhật Bản tiếp tục tăng trong năm 2026, nhờ nhu cầu thị trường tích cực và giá cá minh thái trên thị trường quốc tế duy trì ở mức cao. Theo dữ liệu hải quan Nhật Bản được Liên minh Cá Nga (Russian Fish Union) phân tích, cả cá minh thái đông lạnh và phi lê đều ghi nhận mức tăng về kim ngạch trong 7 tháng đầu năm.

Malaysia thúc đẩy công nghệ biofloc để nâng cao sản lượng và giá trị nuôi cá rô phi

 |  07:54 10/09/2026

(vasep.com.vn) Bộ Nông nghiệp và An ninh Lương thực Malaysia đang thúc đẩy ứng dụng công nghệ biofloc trong nuôi cá rô phi (Oreochromis spp.) nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, nguồn nước và tăng thu nhập cho người nuôi. Bộ trưởng Datuk Seri Mohamad Sabu cho rằng cá rô phi có tiềm năng trở thành nguồn cung protein quan trọng, đồng thời mang lại cơ hội kinh tế lớn cho ngành nuôi trồng thủy sản.

VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM

Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội

Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO

Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu

Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn

Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh

Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn

VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội

Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn

© Copyright 2020 - Mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận bằng văn bản của VASEP

DANH MỤC