Theo "Báo cáo Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam năm 2015" (ngày 5/1/2016), Nhật Bản chiếm 16,3% tổng kim ngạch XK thủy sản của Việt Nam, đứng thứ 3 sau Mỹ và EU. Trong năm 2015, tổng XK thủy sản của Việt Nam sang Nhật Bản đạt gần 1 tỷ USD. Do vậy, Nhật Bản được đánh giá là một trong những thị trường NK quan trọng đối với ngành thủy sản Việt Nam.
Dưới đây là 4 điểm chính của bài viết:
1. Tìm kiếm lợi thế khi hợp tác kinh doanh với các công ty Nhật Bản.
Khi hợp tác, các DN Việt Nam cần phải hiểu đặc tính riêng của các công ty Nhật Bản, rằng các công ty Nhật Bản đưa ra mỗi quyết định như thế nào và DN Việt Nam cần đáp ứng các yêu cầu của họ như thế nào.
Có thể dễ dàng thấy rằng các công ty Nhật Bản phải mất thời gian dài để đưa ra một quyết định. Khi bàn đến một vấn đề lớn, họ có thể mất vài tháng để đưa ra quyết định. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng các công ty Nhật Bản mất thời gian để đưa ra quyết định vì đây là một quá trình ra quyết định khá độc đáo của Nhật Bản, dựa theo hệ thống "Ringi" (có nghĩa là “chia sẻ quyền ra quyết định”). Đây cũng là phương thức truyền thống trong quá trình ra quyết định ở cấp quản lý tại Nhật Bản. Hệ thống từ dưới lên này bao gồm các đề xuất và tranh luận thẳng thắn của nhân viên, trong đó nhà quản lý phải đạt được sự ủng hộ nhiệt tình từ phía nhân viên của mình. Hệ thống "Ringi" có thể sẽ khiến cho các DN nước ngoài thấy tốn thời gian. Tuy nhiên, hệ thống này vẫn được sử dụng rộng rãi bởi các công ty Nhật Bản chịu ảnh hưởng sâu sắc của truyền thống làm việc tập thể. Sẽ không có vấn đề gì nếu các DN có thể đợi phản hồi từ các đối tác Nhật Bản. Còn nếu phong cách làm việc này làm các DN mất kiên nhẫn, các DN nên hiểu lý do tại sao các đối tác Nhật Bản mất nhiều thời gian như thế để đưa ra quyết định so với các công ty nước ngoài khác. Tuy phải mất thời gian để đưa ra quyết định, đổi lại các DN có thể duy trì mối quan hệ tốt và lâu dài với các đối tác Nhật Bản một khi quyết định được đưa ra vì toàn bộ công ty đối tác đều thống nhất với quyết định đó.
Các DN có thể không hài lòng với các yêu cầu khá chi tiết, cụ thể lặp đi lặp lại của các công ty Nhật Bản. Ví dụ như cách nhân viên mặc trang phục tại các dây chuyền sản xuất và thậm chí màu sắc của thớt thái. Nếu các DN chưa sẵn sàng lắng nghe các yêu cầu của họ thì khó có thể duy trì mối quan hệ kinh doanh lâu dài với các công ty Nhật Bản vì hợp tác với các công ty Nhật đồng nghĩa với việc cải thiện dây chuyền chế biến và chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của họ. Có nhiều yêu cầu mà DN thấy dễ dàng đáp ứng được. Tuy nhiên, nếu DN coi việc kinh doanh với đối tác Nhật Bản là cách tốt nhất để cải thiện nhà máy và sản phẩm của DN, họ có thể trở thành một trong những khách hàng lớn cho DN đó bởi họ sẽ không ngừng chỉ ra những gì cần cải thiện cho DN đồng thời họ cũng kỳ vọng duy trì mối quan hệ lâu dài với DN đó. Do vậy, DN nên xem xét các yêu cầu của đối tác Nhật Bản như là những “lời khuyên" hữu ích.
Tóm lại, các DN Việt Nam nên ghi nhớ điểm chính để hợp tác tốt với các DN Nhật Bản, là cách họ đưa ra quyết định cũng như đảm bảo các yêu cầu của họ.
2. Theo kịp tiêu chuẩn Nhật Bản
Để hợp tác tốt với các DN Nhật Bản, các nhà XK Việt Nam cần phải đảm bảo về mặt chất lượng sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn chung của Nhật Bản. Với quy định về nguồn gốc tôm nuôi Việt Nam khá nghiêm ngặt, một số công ty XK tôm Việt Nam không muốn XK sang Nhật Bản vì họ sợ sản phẩm XK không đạt tiêu chuẩn. Tuy nhiên, đây là cách các công ty Nhật Bản kiểm soát chất lượng sản phẩm. Theo Bảng nguồn cung thực phẩm và nhu cầu năm 2002 từ Bộ Nông-Lâm-Ngư nghiệp Nhật Bản, sản xuất thực phẩm trong nước của Nhật Bản đáp ứng khoảng 40% nhu cầu tiêu thụ (dựa vào nguồn cung calo). Do vậy, Nhật Bản phải phụ thuộc vào 60% nguồn thực phẩm NK từ các nước. Vì vậy, Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội Nhật Bản đánh giá an toàn thực phẩm NK là một trong những vấn đề quan trọng, và họ đang nỗ lực bảo đảm vấn đề an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng Nhật. Đây là một trong những lý do tại sao quy định của Nhật Bản đối với thực phẩm NK khá nghiêm ngặt. Đây cũng là xu hướng toàn cầu, ví dụ chương trình thanh tra cá da trơn của Mỹ, hay EU yêu cầu các tàu khai thác cá ngừ có mã EU hoặc chứng nhận chất lượng tàu tương đương EU. Nhiều nước NK đưa ra tiêu chuẩn nghiêm ngặt đối với thực phẩm NK để đảm bảo vấn đề an toàn thực phẩm và bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Thực tế, để tuân theo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt đó có thể gây tốn kém và đôi khi người nuôi và các nhà XK Việt Nam khó áp dụng ngay. Tuy nhiên, để tăng hoặc thậm chí để ổn định sản lượng XK như hiện tại, các công ty XK cần tuân theo theo các tiêu chuẩn đó, vì EU, Mỹ và Nhật Bản là những thị trường lớn, chiếm hơn 50% tổng kim ngạch XK thủy sản của Việt Nam.
3. Vấn đề vệ sinh
Vấn đề vệ sinh là một trong những yếu tố quan trọng nhất mà các công ty Nhật Bản quan tâm. Khi hợp tác, các công ty Nhật thường có buổi gặp gỡ và thăm nhà máy chế biến của nhà cung cấp. Họ sẽ kiểm tra cẩn thận, chi tiết các dây chuyền sản xuất xem có phù hợp yêu cầu của họ không. Ví dụ, họ quan sát xem có thùng rác và nguyên liệu để quanh nhà máy hay không. Họ yêu cầu nhà máy phải sạch sẽ không chỉ bên trong mà còn bên ngoài nhà máy đó. Thông thường các nhà máy không hoàn toàn cô lập ở một khu vực nhất định. Do đó, môi trường bên ngoài có thể gián tiếp ảnh hưởng đến môi trường bên trong nhà máy.
Một ví dụ khác, công ty Nhật Bản chắc chắn muốn biết công ty XK đó có phòng thí nghiệm riêng để kiểm tra nguyên liệu hàng ngày cũng như thành phẩm,… hay không. Họ cũng muốn biết mỗi ngày công ty XK đó kiểm tra những gì, ví dụ, họ chỉ kiểm tra thành phẩm hay họ kiểm tất cả nguồn nước cho chế biến, các công cụ như thớt và dao, thành phẩm. Ngoài ra, họ cũng sẽ muốn biết phương pháp mà nhà máy đó kiểm tra là gì, như TPC, E.coli, coliform, khuẩn Vibrio, Salmonella và khuẩn Vibrio parahaemolyticus,...
Hai hình dưới đây là ví dụ cụ thể. Trong hình 1, nhân viên này không mặc trang phục đúng quy cách, không sơ vin. Những vật như tóc, gàu có thể rơi xuống và làm ô nhiễm. Trong hình 2, không được dùng khăn để lau giá đặt thớt, vì nó có thể lẫn các sợi vải vào thành phẩm. Mặc dù những điều này có vẻ rất nhỏ nhặt, nhưng các công ty Nhật Bản luôn muốn loại bỏ mọi khả năng xảy ra bất cứ vấn đề gì trong dây chuyền chế biến.
| |
|
| Hình 1 | Hình 2 |
Điều này cũng là đặc tính chung của các công ty Nhật Bản đã đề cập trong mục 1.
Một trong những lý do tại sao công ty Nhật Bản kiểm tra cẩn thận các vấn đề vệ sinh là do quy định chung tại Nhật Bản. Nếu một nhà máy không có khả năng kiểm soát tốt vấn đề vệ sinh, không sớm thì muộn, sản phẩm của họ sẽ bị trả về Việt Nam do sản phẩm đó không đạt tiêu chuẩn Nhật Bản. Do đó, họ quan tâm đến vấn đề vệ sinh để tránh rủi ro trong tương lai, bởi người tiêu dùng Nhật kỳ vọng vào sản phẩm có chất lượng, và nếu các nhà NK bỏ qua vấn đề vệ sinh, họ sẽ phải chịu trách nhiệm về điều đó, thậm chí phải bồi thường cho người tiêu dùng.
4. Kiểm soát các nguồn lợi
Nguồn cung thủy sản ổn định là một trong những vấn đề quan trọng nhất đối với các nhà NK. Bởi vì họ cũng có khách hàng trong nước. Thậm chí nếu nhà NK có hàng bán tại thị trường nội địa tháng này, sẽ không có ích gì nếu tháng tới họ không có hàng bán. Khi các công ty Nhật Bản thiếu hàng, khách hàng của họ sẽ tìm đến nhà cung cấp khác. Các nhà NK cũng có thể nhập hàng từ nước khác để đảm bảo nguồn cung cấp tới khách hàng. Nguồn cung ổn định là chìa khóa để duy trì hợp tác lâu dài và đó là những gì các nhà XK thủy sản Việt Nam phải cố gắng.
Na Uy là một quốc gia khá thành công trong việc kiểm soát các nguồn lợi thủy sản ở Đại Tây Dương. Theo Liên đoàn Thủy sản Na Uy, năm 1990, giá trị XK thủy sản khai thác đạt 7.774.251.000 NOK và đạt 20.328.726.000 NOK năm 2010. Con số tính đến tháng 4/2012 tăng hơn 2,5 lần trong 20 năm. Chính phủ Na Uy đã tích cực đẩy mạnh phát triển ngành thủy sản. Họ đưa ra TAC (tổng hạn ngạch được phép khai thác) để tránh tình trạng lạm thác. Mỗi nhà máy có hệ thống để kiểm tra khối lượng thực tế đưa đến nhà máy. Ngoài ra, mỗi tàu đánh bắt có VMS (hệ thống giám sát tàu), cho phép quan sát vị trí tàu. Họ không thâm nhập vào khu vực cấm khai thác vì họ biết họ đang bị giám sát. Trên thực tế ngư dân trong nước cũng tích cực hợp tác vì kiểm soát tốt các nguồn lợi là để đảm bảo công việc tương lai của họ.
Nhật Bản hiện là một trong những thị trường XK thủy sản lớn nhất của Na Uy. Trong đó cá thu Na Uy là một trong những loài NK phổ biến, và nguồn cung từ Na Uy khá ổn định. Gần đây, Nhật Bản NK khoảng 30% tổng sản lượng cá thu khai thác tại Na Uy. Nguồn cung ổn định là nhờ kiểm soát nguồn lợi tốt.
Mặc dù việc kiểm soát sẽ chưa có tác dụng tốt ngay lập tức, chúng ta cần kiên nhẫn với sự hợp tác của tất cả ban ngành. Quản lý nguồn lợi giúp nguồn cung trong tương lai ổn định hơn.
Những ý kiến trên có thể khá phổ biến, nhưng tác giả hy vọng sẽ giúp DN Việt Nam cải thiện XK thủy sản sang thị trường Nhật Bản. Cá nhân tác giả hy vọng sẽ có nhiều cơ hội hợp tác hơn nữa với các nhà cung cấp thủy sản Việt Nam.
Daisuke Tsuji
Kohyo Company Co., Ltd
5-4-19 Shinsho, Yokkaichi ,Mie, Japan
Email; tsuji@kohyoj.co.jp
(vasep.com.vn) Hội đồng Tôm Toàn cầu (Global Shrimp Council – GSC) cho biết chiến dịch quảng bá tôm với thông điệp “protein hạnh phúc” trên mạng xã hội trong năm 2025 đã đạt kết quả vượt kỳ vọng, tạo nền tảng để tổ chức này mở rộng hoạt động tiếp thị trực tiếp đến người tiêu dùng trong năm 2026. Thông tin được ông Gabriel Luna, đồng sáng lập GSC, chia sẻ tại Hội nghị Thị trường Thủy sản Toàn cầu diễn ra ngày 20/1 tại Hollywood, bang Florida (Mỹ).
(vasep.com.vn) Doanh số thủy sản bán lẻ tăng nhẹ trong năm 2025, nhưng các chuyên gia cho rằng ngành hàng này vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng nếu thoát khỏi “giới hạn” của quầy hải sản truyền thống. Nội dung này được nhấn mạnh tại Hội nghị Thị trường Thủy sản Toàn cầu 2026, diễn ra từ ngày 18–22/1 tại Hollywood, bang Florida (Mỹ).
(vasep.com.vn) Mỹ đang nổi lên là một trong những thị trường tăng trưởng nhanh nhất đối với xuất khẩu thủy sản của Na Uy, song ngành này hiện theo dõi sát sao khả năng Tổng thống Mỹ Donald Trump thực hiện các đe dọa áp thuế mới đối với hàng hóa Na Uy.
(vasep.com.vn) Tập đoàn Nissui (Trụ sở tại quận Minato, Tokyo; Chủ tịch kiêm CEO Akira Tanaka) thông báo sẽ ra mắt ba sản phẩm mới trong dòng thực phẩm đông lạnh “Today’s Side Dish” từ ngày 1/3. Các sản phẩm gồm: Cá thu nướng muối dùng lò vi sóng, Cá sawara nướng vị Saikyo kiểu Kyoto, và Cá nục chiên sốt mơ và lá tía tô. Cả ba đều được thiết kế cho tiêu dùng tại gia và chỉ cần hâm nóng bằng lò vi sóng.
(vasep.com.vn) Chính phủ Morocco vừa thông báo quyết định tạm ngừng toàn bộ hoạt động xuất khẩu cá mòi (sardine) đông lạnh kể từ ngày 1/2/2026, trong một động thái hiếm thấy nhằm bảo đảm an ninh lương thực và bình ổn giá cho người tiêu dùng trong nước. Thông tin được bà Zakia Driouich, Quốc vụ khanh phụ trách nghề cá biển thuộc Bộ Nông nghiệp Morocco, công bố trước Quốc hội trong tuần này.
(vasep.com.vn) Các kế hoạch cắt giảm ngân sách của Mỹ đang đặt chương trình quan trắc đại dương Argo vào tình thế rủi ro, đe dọa một trong những hệ thống nghiên cứu khí hậu và đại dương quan trọng nhất thế giới. Argo là mạng lưới gồm khoảng 4.000 phao tự hành hoạt động âm thầm trên khắp các đại dương, liên tục đo nhiệt độ, độ mặn, áp suất, oxy và các chỉ số sinh học dưới mặt nước.
(vasep.com.vn) Giá tôm hùm sống tại bến cảng ở Nova Scotia, miền nam Canada, đang tăng vọt và đạt mức cao kỷ lục trong mùa khai thác hiện nay. Theo nguồn tin trong ngành, tính đến ngày 20/1, tại các khu vực đánh bắt 33 và 34 (LFA 33 và 34), giá tôm hùm vỏ cứng sống tại bến cảng đã lên tới 14,50 CAD/pound (khoảng 10,49 USD). Mức giá này tăng khoảng 38% so với 10,50 CAD chỉ một tuần trước đó và cao hơn tới 81% so với mức 8,00 CAD vào đầu mùa khai thác cuối tháng 11 năm ngoái.
(vasep.com.vn) 11 tháng đầu năm 2025, XK cá ngừ của Thái Lan đạt hơn 2,3 tỷ USD, giảm 2% so với cùng kỳ năm 2024. Thái Lan tiếp tục giữ vị thế trung tâm chế biến – xuất khẩu cá ngừ (đặc biệt là cá ngừ đóng hộp/đóng túi) nhờ năng lực chế biến quy mô lớn, hệ sinh thái nguyên liệu, logistics ổn định và sự dẫn dắt của các tập đoàn như Thai Union.
(vasep.com.vn) Tập đoàn BioMar dự báo triển vọng tăng trưởng tích cực trong năm 2026, với động lực chính đến từ phân khúc tôm, chiến lược sử dụng nguyên liệu bền vững và tăng cường đầu tư cho nghiên cứu – phát triển (R&D). Doanh nghiệp cho biết các yếu tố này sẽ đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh của thức ăn thủy sản trong bối cảnh thị trường toàn cầu nhiều biến động.
(vasep.com.vn) Theo Cục Thủy sản và Tài nguyên Thủy sinh (DA-BFAR) thuộc Bộ Nông nghiệp Philippines, điểm số và thứ hạng của nước này trong Chỉ số đánh bắt bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) của Sáng kiến toàn cầu chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (GIA).
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn