Nhiều “giấy tờ” chuyên ngành gây khó khăn cho thủ tục thông quan

Nhiều “giấy tờ” chuyên ngành gây khó khăn cho thủ tục thông quan

Thứ 5, 10/09/2015 | 15:32 GTM +07

(vasep.com.vn) Ngày 8/9, tại Hà Nội, Tổng cục Hải quan phối hợp với Dự án quản trị nhà nước nhằm tăng trưởng toàn diện của Cơ quan phát triển quốc tế hoa Kỳ (USAID GIG) tổ chức Hội nghị tham vấn doanh nghiệp: Đánh giá việc thực hiện Luật Hải quan và văn bản hướng dẫn thi hành tại Hà Nội. Tiếp đó, ngày 10/9, hội nghị này cũng được tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh để tham vấn ý kiến cộng đồng DN phía Nam.

Tại hội nghị, ông Âu Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Giám sát Quản lý (Tổng cục Hải quan) cho biết, sau gần 1 năm triển khai Luật Hải quan 2014, Tổng cục Hải quan đã ban hành khoảng 40 văn bản để giải đáp các vướng mắc của Cục Hải quan các địa phương và cộng đồng DN. Hầu hết các vướng mắc đều là do hiểu chưa thống nhất các quy định của Luật, các văn bản hướng dẫn chưa rõ ràng… Theo đánh giá của Cục GSQL, Luật Hải quan đã có tác động tích cực đối với hoạt động XNK và một số hoạt động nghiệp vụ hải quan. Những thay đổi của Luật Hải quan và các văn bản quy định chi tiết thi hành đã tác động sâu rộng đến hoạt động XNK của DN và toàn bộ hoạt động hải quan đặc biệt là các hoạt động nghiệp vụ hải quan.

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những vướng mắc về hồ sơ hải quan, việc triển khai chưa được thống nhất giữa các đơn vị Hải quan, khó khăn trong việc thực hiện quy định kiểm tra hồ sơ thanh khoản tại DN. Đặc biệt, công tác quản lý chuyên ngành vẫn được cho là một trong những vấn đề khó khăn nhất trong thủ tục thông quan hàng hoá.

Tại hội nghị, đại diện VASEP, ông Nguyễn Hoài Nam - Phó TTK Hiệp hội cũng nêu 3 vướng mắc của DN thủy sản sau hơn 8 tháng Luật Hải quan có hiệu lực như: (1) Vướng mắc trong việc việc quản lý XNK theo quản lý rủi ro hải quan; (2) Báo cáo quyết toán xuất nhập tồn theo quy định tại Điều 60, Thông tư số 38/2015/TT-BTC; (3) Việc đưa hàng thủy sản phải kiểm dịch, kiểm tra ATTP vào diện kiểm tra trước hoàn thuế sau như điểm h, Khoản 2, Điều 41 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP, ngày 22/7/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế.

Để đánh giá thực tế 8 tháng thực hiện luật Hải quan, với sự phối hợp của các Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS), Hiệp hội Logistics (VLA) và một số DN (DN) khác, Dự án Quản trị nhà nước nhằm tăng trưởng toàn diện (USAID GIG) đã tổ chức khảo sát, hội thảo, thu thập ý kiến cộng đồng DN về vấn đề này.

Dưới đây là bài trình bày của ông Phạm Thanh Bình, Chuyên gia tư vấn Dự án GIG: “Một số nét về 8 tháng thực hiện Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn”, trong đó có nêu kết quả tóm tắt về cuộc khảo sát ý kiến cộng đồng DN của GIG.

Nhìn chung, cộng đồng DN cho rằng, cùng với việc hệ thống VNACCS được vận hành trơn tru hơn 2014, hệ thống pháp luật hải quan (HQ) đã mang lại cho hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) nhiều thuận lợi hơn trước. 94% DN được khảo sát đánh giá sự chuyển biến của các chính sách, pháp luật HQ trong những năm qua là tích cực. Đặc biệt, DN đánh giá rất cao hệ thống thông quan điện tử VNACCS, hệ thống cung cấp thông tin và cơ chế tham vấn HQ – DN. Ngành HQ là 1 trong số rất ít ngành tổ chức một cách thường xuyên các hội nghị, hội thảo thông báo, lấy ý kiến DN về các quy định mới của pháp luật.

Bên cạnh những mặt được, quá trình thực hiện cũng bộc lộ một số hạn chế sau:

1. Về mặt văn bản, các DN cho rằng:

- Văn bản quá dài: Thông tư 38/2015/TT-BTC dài tới hơn 200 trang, ngoài ra còn tiếp tục được giải thích, hướng dẫn tại một văn bản dài gần 100 trang nữa (công văn 6330/TCHQ-GSQL). Đây thực sự là một khó khăn, thách thức đối với người thực hiện.

- Văn bản vừa ban hành đã có hiệu lực, DN chưa kịp nghiên cứu, nắm vững (Thông tư 38/2015/TT-BTC).

- Một số quy định khó hiểu, khó thực hiện: quy định về Báo cáo quyết toán hợp đồng gia công: 50% DN trả lời khảo sát cho rằng quy định này không đơn giản hơn hoặc phức tạp hơn trước (quy định quyết toán theo trị giá, trong khi DN hạch toán theo lượng nguyên liệu nhập khẩu, lượng sản phẩm xuất khẩu…); 63,3% DN cho rằng quy định về thủ tục quyết toán, không thu thuế/hoàn thuế tờ khai nhập khẩu loại hình nhập SXXK không đơn giản hơn hoặc phức tạp hơn trước (vừa phải Báo cáo quyết toán theo năm, vừa phải thanh lý tờ khai nhập khẩu khi hết thời gian ân hạn; Biểu mẫu 15 không thể thực hiện được; kiểm tra tại DN gây phiền hà).

- Quy định về thủ tục miễn thuế, không thu/hoàn thuế rườm rà, nhiều giấy tờ (riêng các quy định này chiếm tới ¼ trong tổng số hơn 200 trang của Thông tư 38).

- Quy định không rõ, DN không biết thực hiện thế nào: Ví dụ: Điều 16 Thông tư 38 (Hồ sơ hải quan) quy định chứng từ phải xuất trình khi mở tờ khai đối với hàng gia công là B/L, hàng SXXK là B/ L + Invoice, nhưng theo Điều 11 Quyết định số 1966/QĐ-TCHQ lại qui định phải thêm 01 bộ photo các chứng từ đi kèm tờ khai có xác nhận của Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờ khai. DN không rõ bộ chứng từ photo này là những chứng từ gì. Thực tế có đơn vị Hải quan áp dụng: trường hợp kiểm hóa hộ thì yêu cầu DN phải bổ sung invoice và list, không phải kiểm hóa hộ thì không phải bổ sung chứng từ này.

- Quy định không phù hợp thủ tục hải quan điện tử: ví dụ, điều 11 QĐ 1966/QĐ-TCHQ quy định, khi kiểm hoá hộ, 2 đơn vị HQ phải FAX qua, FAX lại “Phiếu đề nghị kiểm tra hàng hóa”, “Phiếu ghi kết quả kiểm tra”  làm kéo dài thời gian thông quan hàng hoá.

- Quy định nộp thuế trước khi thông quan hàng hoá là không hợp lý, nhất là đối với những DN luôn tuân thủ tốt pháp luật, các DN NK nguyên liệu để sản xuất và trường hợp hàng hoá NK từ thị trường gần (hàng hoá luôn về trước C/O), quy định phải nộp thuế trước thông quan khiến DN luôn không được áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt vì tại thời điểm làm thủ tục hải quan DN chưa thể có C/O.

- Xác nhận hàng hóa qua khu vực giám sát là một trong số các thủ tục có nhiều vướng mắc nhất, là thủ tục có ít cải tiến nhất hiện nay. Trong khi thủ tục khai báo hải quan đã căn bản được điện tử hoá thì thủ tục xác nhận hàng qua giám sát hải quan vẫn làm thủ công. Trong khi thủ tục kiểm tra hồ sơ, kiểm tra hàng hoá đã áp dụng quản lý rủi ro thì thủ tục giám sát đang áp dụng với tất cả các lô hàng: 88,5% các DN tham gia khảo sát cho biết, để hàng hoá được thông quan phải trực tiếp làm thủ tục với bộ phận giám sát HQ cảng.

- Quản lý rủi ro là phương pháp quản lý hiện đại, nhưng hiện còn nhiều bất cập: hàng hoá của DN chấp hành tốt pháp luật vẫn bị phân vào luồng vàng, luồng đỏ; cứ mặt hàng thuộc diện quản lý chuyên ngành (kiểm dịch, kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm...) là bị phân vào luồng vàng, luồng đỏ; hàng hoá của DN bị phân vào luồng đỏ qua kiểm tra nhiều lần (hàng chục lô), trong thời gian dài (hàng năm), không phát hiện vi phạm mà vẫn tiếp tục bị phân vào luồng đỏ; nguyên liệu NK để sản xuất cũng bị phân vào luồng đỏ; một lô hàng, do quá 50 dòng hàng nên phải chia làm nhiều tờ khai, có tờ thì luồng xanh, tờ thì luồng đỏ; lô hàng XNK tại chỗ, bên xuất kiểm tra, bên nhập lại kiểm tra nữa...

Kết quả khảo sát cho thấy có DN hàng XK mà chỉ 1% là luồng xanh, 90% luồng Vàng, 9% luồng đỏ; có DN 100% hàng NK là luồng đỏ hoặc 0% luồng xanh, 90% luồng vàng, 10% luồng đỏ. Điểm đáng chú ý là hàng XK, nhất là hàng thế mạnh, khuyến khích xuất khẩu của Việt Nam (nông sản, thuỷ sản...)  đang được kiểm tra gắt gao hơn hàng NK, có DN XNK một mặt hàng nông sản mà 100% là luồng vàng khi NK, 69% luồng vàng khi XK....Các DN cho rằng nguyên nhân của tình trạng trên là việc lấy mặt hàng làm  tiêu chí quản lý rủi ro, nhất là việc quy định cứ mặt hàng thuộc diện quản lý chuyên ngành (kiểm dịch, kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm...) là bị phân vào luồng vàng, luồng đỏ dẫn đến các loại hàng hoá này đã bị kiểm tra chuyên ngành (có mặt hàng bị 3 cơ quan kiểm tra), lại tiếp tục trở thành đối tượng luồng vàng, luồng đỏ của HQ.

2. Về tổ chức thực hiện:

- Áp dụng không thống nhất giữa các đơn vị, các công chức:

+ Việc đưa hàng về bảo quản chờ kiểm tra chuyên ngành: có đơn vị HQ cho phép, có đơn vị không cho phép.

+ Mã số hàng hoá mỗi nơi mỗi khác. Có trường hợp đơn vị HQ làm thủ tục thông quan áp mã có thuế suất 5%, theo kết quả phân tích của Trung tâm PTPL thì hàng hoá có mã thuế suất 0%, kiểm tra sau thông quan áp mã có thuế suất 9%.

- Thực hiện không đúng quy định:

+ Hàng luồng xanh nhiều đơn vị HQ vẫn yêu cầu DN phải xuất trình hồ sơ.

+ Quy định đơn giản, nhưng thực hiện rất phức tạp, ví dụ như giữa quy định về hồ sơ không thu/hoàn thuế tại Thông tư 38 và thực tế thực hiện khác xa nhau .

+ Về xác nhận thực xuất: Theo điều 53 Thông tư 38/2015/TT-BTC thì DN không phải làm thủ tục xác nhận thực xuất, nhưng thực tế cơ quan Hải quan vẫn yêu cầu DN phải xuất trình tờ khai xuất, B/L, invoice, List để kiểm tra và xác nhận với lý do để  phục vụ cho việc hoàn thuế hàng SXXK. 

+ Thủ tục kiểm tra thực tế hàng hoá rất rườm rà, phức tạp, nhiều công đoạn, nhiều bộ phận, đặc biệt có cả thủ tục “đăng ký kiểm hóa ở Hải quan kiểm soát”, làm mất nhiều thời gian và chi phí của DN.

+ Hiện nay, cơ quan Hải quan nêu căn cứ thông tư 12/2015/TT – BNNPTNT để kiểm tra gắt gao đối với mặt hàng hạt điều thô nhập khẩu, trong khi thông tư này hướng dẫn kiểm tra an toàn thực phẩm hàng hóa có nguồn gốc thực vật nhập khẩu và cơ quan Hải quan không phải là cơ quan có thẩm quyền đối với việc kiểm tra này.

- Sự phối hợp giữa HQ và các cơ quan khác chưa tốt, ảnh hưởng đến thông quan hàng hoá:

+ Phối hợp về thời gian làm việc giữa cơ quan Hải quan và ngân hàng chưa tốt: Hàng đã làm thủ tục hải quan, đã nộp thuế  vẫn chưa được thông quan do phải chờ xác nhận đã nhận được tiền tại Kho bạc; hoặc đã làm thủ tục hải quan nhưng chưa thể thông quan do quá giờ làm việc hoặc ngày nghỉ cuối tuần, nghỉ lễ của ngân hàng, DN không nộp được thuế (kéo dài thêm 3-5 ngày). Tình trạng chưa liên thông giữa các ngân hàng khiến, trong một số trường hợp, DN  phải rút tiền mặt từ ngân hàng DN mở tài khoản để nộp vào ngân hàng có tài khoản của Hải quan, rất phức tạp về thủ tục, làm mất nhiều thời gian của DN.

+ Phối hợp giữa HQ và các cơ quan khác chưa tốt: HQ không xác nhận, đóng dấu lên tờ khai và hồ sơ HQ, nhưng việc không xác nhận này khiến DN luôn gặp rắc rối với các cơ quan thuế, quản lý liên ngành, quản lý thị trường khi vận chuyển hàng hoá và làm một số công việc với cơ quan thuế.

3. Quản lý chuyên ngành vẫn tiếp tục là một trong những vấn đề khó khăn nhất trong thủ tục thông quan hàng hoá

Theo kết quả khảo sát 5 Chi cục Hải quan lớn tại HQ các thành phố Hồ Chí Minh (2 Chi cục), Hà Nội, Hải Phòng, Bình Dương cho thấy tỷ lệ các lô hàng phải kiểm tra chuyên ngành chiếm 30 – 35% tổng số lô hàng NK (riêng tại Chi cục HQ cảng HP khu vực I, tỷ lệ này là hơn 44%). Trong tổng số các DN được dự án GIG khảo sát qua phiếu, có tới 62 % DN có hàng hoá phải kiểm dịch, 55% DN có hàng hoá phải kiểm tra chất lượng, 36,2% DN có hàng hoá phải kiểm tra an toàn thực phẩm (ATTP).

Thời gian kiểm dịch phổ biến là 24 – 48 giờ, có nơi, có mặt hàng (sản phẩm chế biển từ sữa, nước giải khát) tới 168 – 240 giờ; kiểm tra chất lượng phổ biến là 168 giờ, có nơi, có mặt hàng (sữa, thực phẩm, đổ đựng thực phẩm)  240 giờ; kiểm tra ATTP phổ biến là 168 giờ, riêng mặt hàng thực phẩm chức năng thời gian kiểm tra 360 – 400 giờ.

Trong các loại kiểm tra chuyên ngành, theo báo cáo của Chi cục HQ cảng Hải Phòng khu vực I, khoảng 70% là kiểm dịch.

Một điều rất đáng chú ý hiện nay là nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của VN bị kiểm tra chuyên ngành gắt gao nhất. Ví dụ: Mặt hàng hạt điều (thô và nhân) phải chịu 3 loại kiểm tra chuyên ngành là kiểm dịch , kiểm tra chất lượng và kiểm tra ATTP, cả 3 loại kiểm tra đều thực hiện đối với cả chiều nhập khẩu và chiều xuất khẩu (ngoài ra Hải quan cũng kiểm tra gắt gao mặt hàng này như đã nêu ở phần trên). Tương tự đối với mặt hàng thuỷ sản, sữa và các sản phẩm từ sữa...

Trả lời câu hỏi so sánh mức độ đơn giản của thủ tục kiểm tra chuyên ngành năm 2015 so với trước 2015, các DN cho biết:

- Về thủ tục kiểm dịch: 63,2% DN tham gia khảo sát cho biết thủ tục kiểm dịch không đơn giản hơn hoặc phức tạp hơn trước 2015; 36,8% cho rằng thủ tục này đơn giản hơn trước.

- Về thủ tục kiểm tra chất lượng: 62,9% DN tham gia khảo sát cho biết thủ tục kiểm tra chất lượng không đơn giản hơn hoặc phức tạp hơn trước 2015; 37,1% cho biết thủ tục này đơn giản hơn trước.

- Về thủ tục kiểm tra ATTP: 72,7% DN tham gia khảo sát cho biết thủ tục  không đơn giản hơn hoặc phức tạp hơn trước 2015; 27,3% cho biết thủ tục này đơn giản hơn trước.

Trả lời câu hỏi so sánh về thời gian hoàn thanh thủ tục kiểm tra chuyên ngành năm 2015 so với trước 2015, các DN cho biết:

- Về thời gian kiểm dịch: 78,6% DN tham gia khảo sát cho biết thời gian kiểm dịch không nhanh hơn hoặc chậm hơn trước 2015, trong khi 21,4% cho rằng nhanh hơn trước.

- Về thời gian kiểm tra chất lượng: 90,9% DN tham gia khảo sát cho biết thời gian kiểm tra chất lượng không nhanh hơn hoặc chậm hơn trước 2015, chỉ có 9,1% cho rằng nhanh hơn trước.

- Về thời gian kiểm tra ATTP: 81,8% DN tham gia khảo sát cho biết thời gian kiểm tra ATTP không nhanh hơn hoặc chậm hơn trước 2015, chỉ có 18,2% cho rằng nhanh hơn trước.

Tạ Hà

Chức danh: Trưởng Ban Biên tập Bản tin tuần Thương mại Thủy sản (phát hành thứ Sáu hàng tuần); Chuyên gia thị trường ngành hàng cá Tra.

Tel: 024. 37715055 - ext. 214

Mobile: 0948.534.883

Email: taha@vasep.com.vn

Thích, chia sẻ và bình luận bài viết này
Nhấn
Để nhận tin tức mới nhất, nóng nhất về ngành Thủy sản Việt Nam.
-- Kết bạn với VASEP trên Facebook --

BẢN TIN THƯƠNG MẠI THỦY SẢN

FTA

Trang thông tin điện tử của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP)
Cơ quan Chủ quản: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP)
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcmcity@vasep.com.vn

VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn

Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn

Đang online: 1019

Tổng lượt truy cập: 123333040

Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông.
Đề nghị ghi rõ nguồn www.vasep.com.vn khi sử dụng thông tin từ trang này.