Hội nghị “Đối thoại với Doanh nghiệp về chính sách lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội”
Ông Chu Văn An - Phó Tổng Giám đốc Minh Phu Seafood Corp phát biểu tại buổi Đối thoại

Hội nghị “Đối thoại với Doanh nghiệp về chính sách lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội”

Thứ 6, 03/07/2015 | 16:43 GTM +07

(vasep.com.vn) Sáng 3/7/2015, tại Hà Nội, Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội tổ chức Hội nghị với chủ đề: “Đối thoại với Doanh nghiệp về chính sách lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội”.

Buổi đối thoại nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về pháp luật lao động, giải quyết các tranh chấp lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa ổn định và tiến bộ. Đồng thời đề xuất các giải pháp tháo gỡ vướng mắc khi triển khai pháp luật lao động và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI khẳng định các nội dung thảo luận và ý kiến của các DN, Hiệp hội tại buổi đối thoại hôm nay sẽ được VCCI tập hợp thành văn bản báo cáo với Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, và các bộ ban ngành liên quan.

Phần đối thoại để giải đáp thắc mắc của doanh nghiệp “nóng” đến giờ cuối với rất nhiều câu hỏi xoay quanh quy định về giới hạn làm thêm giờ 30 tiếng/tháng, 300 tiếng/năm; về quy định giới hạn thời gian làm thêm giờ; điều kiện đối với lao động nước ngoài là chuyên gia; quy định liên quan đến kinh phí công đoàn, đóng kinh phí công đoàn lên cấp trên; quy định về chăm sóc sức khỏe cho người lao động....

Phát biểu tại hội nghị, đại diện VASEP và lãnh đạo Minh Phu Seafood Corp cho biết hiện nay, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản gặp một số khó khăn ngoài các rào cản kỹ thuật còn có các rào cản về chính sách an sinh xã hội. Việc này hầu hết liên quan đến quy định của Bộ Luật lao động. Hiện nay, để bán được sản phẩm thủy sản qua chế biến ra thị trường nước ngoài, ngoài các điều kiện về nhà xưởng, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm… các DN còn phải đảm bảo các chính sách về trách nhiệm xã hội. Khách hàng nước ngoài khi mua hàng họ sẽ đánh giá chính sách an sinh xã hội theo quy định của Bộ Luật Lao động Việt Nam và các quy định riêng của từng khách hàng. Tiêu chuẩn của khách hàng rất khó nhưng DN vẫn vượt qua được. Tuy nhiên, còn có một số quy định của Bộ Luật lao động thì DN rất khó thực hiện cho đúng. Theo đó, đại diện VASEP và lãnh đạo Minh Phu Seafood Corp đã đưa ra 13 điểm bất cập của chính sách lao động, tiền lượng và bảo hiểm xã hội. Cụ thể:

1. Thời gian làm thêm giờ: Điểm b, khoản 2 điều 106 Luật LĐ 2012 nêu: “Bảo đảm số giờ làm thêm của NLĐ không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm”. Trong thực tế, DN rất cần làm thêm giờ khi:

1.1. Thứ nhất, nhiều khi tôm do nông dân trúng mùa đem đến nhà máy quá nhiều, DN không thể không nhận, mà nhận sản xuất thì sẽ vi phạm giờ làm việc, bị khách hàng đánh lỗi là làm không đúng quy định của Bộ luật LĐ. Khách sẽ không mua hàng. Điều này tôi thấy có vẻ không thuận với Nghị quyết 26 Hội nghị TW7 khóa X về NN, ND và Nông thôn….

1.2. Thứ hai, Nếu sản xuất để giao hàng đúng hẹn cho khách hàng, thì phải tăng ca làm việc dẫn đến vi phạm thời gian làm thêm. Nói thật, DN cũng chẳng “mặn mà” với làm thêm giờ vì phải chi trả ít nhất 150%  cho làm thêm giờ bình thường, 215% cho làm thêm giờ vào ban đêm; 300% làm thêm giờ cho những ngày Lễ và 200% làm thêm ngày Chủ nhật. Vì những lý do trên, chúng tôi đề nghị Chính Phủ trình Quốc hội sửa lại quy định làm thêm giờ theo hướng như sau:

Đề nghị sửa lại: Bảo đảm số giờ làm thêm của NLĐ không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 50 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 500 giờ trong 01 năm.

2. Thanh toán chế độ cho NLĐ khi chấm dứt hợp đồng LĐ:

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng LĐ, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

Trong thực tế các DN chế biến thủy sản có chu kỳ trả lương sản phẩm thường từ ngày 10- ngày 15 hàng tháng. Trường hợp công nhân nghỉ việc vào ngày 1-10 trong tháng thì kể cả trường hợp đặc biệt kéo dài 30 ngày cũng bị lỗi vì trong thời gian nghỉ từ ngày 7 đến ngày 30 chưa thể tính được năng suất thực tế của người nghỉ đó mà trả lương.( lỗi nặng)

Đề nghị sửa đổi: Trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng LĐ, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 45 ngày.

3. Chăm sóc sức khỏe cho NLĐ

Hàng năm, người sử dụng LĐ phải tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho NLĐ, kể cả người học nghề, tập nghề; LĐ nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản, người làm công việc nặng nhọc, độc hại, NLĐ là người khuyết tật, NLĐ chưa thành niên, NLĐ cao tuổi phải được khám sức khỏe ít nhất 06 tháng một lần (Khoản 2 Điều 152, Bộ luật LĐ năm 2012). 

Hiện nay, việc khám sức khỏe định kỳ ít nhất 6 tháng/lần đối với ngành chế biến thủy sản gây rất nhiều khó khăn cho DN vừa tốn kém thời gian, tốn kém tiền bạc. Ví dụ, DN Minh Phu Seafood Corp mỗi người khám sức khỏe mất khoảng 30 phút x 15.000 người lao động x 2 = 15.000.000 giờ. Một lần khám sức khỏe định kỳ theo quy định khoảng từ 150- 200 ngàn đồng, DN chúng tôi chi phí khoảng 5,5 – 6 tỷ đồng.

Kiến nghị: Tùy theo ngành nghề nặng nhọc, độc hại mà có thể khám sức khỏe ít nhất 6 tháng một lần. Tuy nhiên, đối với ngành chế biến thủy sản đề nghị khám sức khỏe 01 lần/năm trừ NLĐ làm việc tại các khu vực sản xuất chế biến thực phẩm ăn liền.

4. Đề nghị bỏ một số quy định không cần thiết:

4.1. LĐ nữ trong thời gian hành kinh, được nghỉ mỗi ngày 30 phút, được hưởng nguyên lương (Khoản 5, Điều 155, Bộ Luật LĐ năm 2012). DN rất khó thực hiện vì không xác định được thời gian phải cho NLĐ nghỉ và nghỉ trong bao nhiêu ngày Luật không quy định.

4.2. Giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho LĐ nữ (Khoản 4, Điều 154, Bộ luật LĐ năm 2012); Luật chưa quy định cụ thể mức hỗ trợ kể cả thời gian phải hỗ trợ; Vấn đề này chúng ta vô tình tạo ra cơ hội cho khách hàng bắt lỗi DN khi đánh giá trách nhiệm Xã hội tại nhà máy.

4.3. Ngoài thời gian quy định nghỉ giữa ca làm việc, vệ sinh cá nhân. Người sử dụng LĐ phải quy định thời điểm các đợt nghỉ ngắn và ghi vào nội quy LĐ (Khoản 3, Điều 108, Bộ luật LĐ 2012). Thực tế trong ca làm việc thường DN không quy định cố định thời gian vệ sinh cá nhân cho NLĐ mà chỉ giải quyết theo nhu cầu tự nhiên, thời gian này cũng có thể được tính thời gian nghỉ ngơi của NLĐ, không nhất thiết phải quy định nghỉ ngơi đồng loạt điều này DN rất khó thực hiện, ảnh hưởng rất lớn dây chuyền sản xuất thiết bị phải hoạt động không có sản phẩm vì cho LĐ nghỉ ngơi giữa chừng.

4.4. Điều 29 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP quy định:

- Người sử dụng LĐ không được xử lý kỷ luật LĐ đối với NLĐ là cha đẻ, mẹ đẻ hoặc cha nuôi, mẹ nuôi hợp pháp đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.

- Khi hết thời gian nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, mà thời hiệu xử lý kỷ luật đã hết thì được kéo dài thời hiệu xử lý kỷ luật LĐ, nhưng tối đa không quá 60 ngày, kể từ ngày hết thời gian nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.

Như vậy, nếu các đối tượng LĐ là cha đẻ, cha nuôi hợp pháp vi phạm các hành vi như: trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng LĐ, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng LĐ…tại thời điểm con nhỏ mới tròn 01 tháng tuổi thì người sử dụng LĐ phải chờ hơn 11 tháng sau mới được xử lý kỷ luật hoặc không được phép xử kỷ luật luôn nếu thời hiệu xử lý kỷ luật đã hết. (Quy định này sẽ tạo cơ hội cho NLĐ vi phạm).

5. Tham gia bảo hiểm cho NLĐ:

Điều 22, Bộ luật LĐ 2012 quy định đang gây bất cập cho các DN chế biến thủy sản trong việc sử dụng LĐ phổ thông. Theo quy định thì sau thời gian thử việc 06 ngày đối với đối tượng này, thì người sử dụng LĐ phải ký hợp đồng LĐ xác định thời hạn từ 12-36 tháng và phải tham gia các bảo hiểm bắt buộc cho NLĐ. Tuy nhiên trong thực tế, LĐ này thường bỏ việc trong thời gian dưới 3 tháng đầu khi vào làm việc vì chưa quen môi trường làm việc, nên gây thiệt hại cho DN phải bỏ ra khoản tiền không nhỏ để tham gia mua các bảo hiểm bắt buộc cho NLĐ. Nhưng, NLĐ bỏ việc ngang nhiên không hưởng được chế độ, về phía DN cũng chẳng có LĐ để sử dụng.

Đề nghị Chính Phủ quy định cho phù hợp: Tất cả LĐ phổ thông khi vào làm cho DN thời gian ổn định đủ 3 tháng, thì chủ DN phải tham gia các bảo hiểm bắt buộc cho NLĐ hoặc nếu quy định như cũ thì thời gian NLĐ nghỉ việc dưới 3 tháng thì cơ quan BHXH phải chi trả số tiền mà DN đã đóng 32,5% để DN lấy LĐ khác vào thực hiện tiếp theo quy định. 

6. Nghịch lý khống chế mức lương tối đa đóng BHXH

Về Tiền lương Pháp Luật chỉ khống chế mức lương tối thiểu, mà không khống chế mức lương tối đa  là rất phù hợp. Nhưng mức lương đóng BHXH lại khống chế mức lương tối đa bằng 20 lần mức lương tối thiểu vùng là chưa  phù hợp trong khi quỹ BH đang thất thu, đang rất cần mở rộng & tích lũy càng nhiều càng tốt …Bản chất của BH là tích lũy số đông để chi trả rủi ro, biến cố bất thường, mất khả năng LĐ cho số ít ,góp phần ổn định an toàn XH.

Đề nghị: Khống chế mức đóng tối thiểu theo lương tối thiểu vùng, mà không nên khống chế mức tối đa. Khuyến khích NLĐ đóng BHXH càng cao càng tốt (hoặc cho quyền lựa chọn đóng theo mức lương thực tế). Tuy nhiên, để ngăn chặn lạm dụng có thể qui định mức tối đa được hưởng BHXH sẽ hợp lý hơn.

7. Về việc tăng lương tối thiểu vùng: Khi tăng lương tối thiểu vùng, các vật giá thiết yếu với NLĐ sẽ tăng 20-30%. DN hiện đã trả lương cao hơn mức tối thiểu vùng. Điều này chỉ làm cho DN tăng chi phí đóng BHXH và phí Công đoàn.

8. Chính sách an sinh XH chưa công bằng với  NLĐ  2 khu vực Nhà nước & tư nhân:

Việc duy trì 2 mức lương tối thiểu (Lương tối thiểu chung cho khu vực công chức nhà nước, Lương tối thiểu vùng cho DN) kéo theo sự phân biệt đối xử về Chính sách BHXH, không công bằng về Bảo hiểm Xã hội. 

Với  CNV Nhà nước Tiền lương hưu = bình quân tiền lương đóng BHXH 5 năm cuối, DN là bình quân tiền lương suốt thời gian đóng BNXH. Cụ thể :

+ Thời gian đóng BHXH theo hệ số lương do nhà nước quy định: 5 năm cuối, nếu tham gia BHXH từ trước 1995…

+ Thời gian đóng BHXH không theo thang bảng lương nhà nước: là Bình quân toàn bộ thời gian.

+ Sau 10 năm nữa (đến 2025) mới thống nhất tính bình quân của toàn bộ thời gian giữa 2 khu vực

Điều này rất  thiệt thòi cho NLĐ làm việc cho Tư nhân trước năm 2000. Đề nghị áp dụng  thống nhất là Bình quân lương đóng BHXH 5 năm (hoặc 10 năm) cuối cùng cho cả khu vực Nhà nước & tư nhân .

9. Hợp đồng là bình đẳng, nhưng Pháp luật qui định trách nhiệm người sử dụng LĐ quá nặng, trong khi  trách nhiệm NLĐ hầu như không có

Nhiều trường hợp NLĐ đề nghị không ký HĐ & không đóng BHXH, nhưng pháp luật chỉ phạt & truy thu người sử dụng LĐ, mà không có qui định gì về trách nhiệm NLĐ với hành vi này. Đối với DN thủy sản  vừa & nhỏ: đối tượng LĐ mùa vụ dưới 3 tháng rất nhiều (thường 30% ->50% là LĐ thời vụ, như học sinh, SV nghỉ hè làm thêm, nhiều loại thủy hải sản thu hoạch theo mùa, LĐ là con em nông ngư dân tham gia lúc nông nhàn …) Hiện nay NLĐ làm thời vụ như trên không  phải đóng BHXH. Nhưng theo Luật BHXH  mới: NLĐ  hợp đồng LĐ có thời hạn từ 01 tháng đến dưới 03 tháng cũng phải đóng BHXH, gây khó khăn rất lớn cho DN trong ngành Thủy sản trong việc ký HĐ & đóng BHXH cho đối tượng này .

10. Việc Thu nộp BHXH & nâng cao Quyền lợi người tham gia BHXH  

Lãi phạt BHXH: Theo qui định DN được chậm nộp 1 tháng (30 ngày), nhưng nếu qua ngày thứ 31 tiền mới nộp (chậm 1 ngày  so với quy định ) lại bị phạt 1 tháng -> Đề nghị sửa luật BHXH cho phù hợp & BHXH tính đúng số ngày chậm nộp.

Để  NLĐ “muốn” & “tự nguyện “ tham gia BHXH (nhất là lớp LĐ trẻ, LĐ nông thôn có tâm lý không muốn tham gia BHXH), thì Quyền lợi BHXH phải được nâng cao, chất lượng dịch vụ của BHXH thuận lợi, nhanh chóng, không cửa quyền nhũng  nhiễu …là động lực để khuyến khích NLĐ chủ động tham gia BHXH (Từ cả 2 phía DN & NLĐ).

Theo qui định mới mức đóng góp tăng dần, nhưng quyền lợi hưởng BHXH của NLĐ ngày càng bị cắt giảm: Mức đóng tăng dần 20% -> 32,5% -> 34,5 -> 36%; Tỷ lệ hưởng lương hưu trước tuổi: từ 55% -> 45% ; Tỷ lệ trừ với trường hợp nghỉ trước tuổi tăng từ 1% -> 2%; Tuổi nghỉ hưu cũng tăng dần ,…

11. Doanh nghiệp giữ lại 2% Chi phí Công đoàn để tổ chức các hoạt động chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho Người Lao động

Nghị định 191/2013/NĐ-CP quy định chi tiết về tài chính Công đoàn quy định về việc Doanh nghiệp phải trích nộp 2% Đoàn phí để thực hiện chức năng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của NLĐ.

Thực tế, phần lớn các hoạt động này Doanh nghiệp chúng tôi đang phải chủ động tổ chức để mang tính kịp thời nhằm đảm bảo duy trì lực lượng lao động đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Rất nhiều hoạt động hàng năm Công ty tổ chức chăm lo đời sống cho Người lao động với một khoảng ngân sách rất lớn như thăm viếng, hoạt động phong trào văn thể mỹ, tham quan nghỉ mát cho người lao động, hỗ trợ mái ấm công đoàn cho ACE công nhân lao động nghèo, hay cấp họ bổng cho con em công đoàn viên học giỏi nhưng có hoàn cảnh khó khăn….. Với nhũng tổ chức có số lao động đông như ngành thủy sản và phần lớn là lao động nông thôn nghèo nên đây là các hoạt động thường xuyên mà Công Đoàn Công ty phải tổ chức nhưng nguồn ngân sách 60% từ 1% đoàn phí và  65% từ 2% Công đoàn phí theo Quy định hiện nay thì Doanh nghiệp không đủ để trang trãi cho các hoạt động nên trên mà Công ty phải thường xuyên bù thêm ngân sách cho các hoạt động chăm lo đời sống cho ACE Công đoàn viên nên chi phí sản xuất phải gánh thêm phần này.

Đề nghị: Xem xét bỏ quy định đóng góp kinh phí công đoàn bằng 2% quỹ lương. Trong thời gian chưa sửa được quy định này đề nghị 2% Chi phí công đoàn được để lại toàn bộ cho Doanh nghiệp để tổ chức các hoạt động chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho Người Lao động. Hằng năm Doanh nghiệp sẽ có báo cáo quyết toán hoạt động thu chi này, nếu doanh nghiệ p không sử dụng hết mới nộp về Công đoàn cấp trên.

12. Trợ cấp thôi việc cho Người nước ngoài

Theo quy định tại khoản 1 điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 quy định: “Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam…". Đồng thời khoản 3 điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội quy định: “Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam…”

Như vậy, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thể tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam. Người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được tham gia bảo hiểm y tế và có các nghĩa vụ và quyền lợi theo quy định tại Luật Bảo hiểm y tế.

Theo Điều 42 Bộ luật Lao động được sửa đổi, bổ sung năm 2012 quy định: “Khi chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ đủ 12 tháng trở lên thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là 1/2 tháng lương, cộng phụ cấp lương nếu có”.

Như vậy,  Đối với người lao động nước ngoài do không tham gia bảo hiểm thất nghiệp nên nếu làm việc cho doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên, chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật vẫn được trợ cấp thôi việc. Và thực tế, lương Lao động nước ngoài tại Việt Nam đang rất cao nên Doanh nghiệp phải gánh một khoản chi phí rất lớn để chi trả khoản này.

Kiến nghị:

1.             Doanh nghiệp không cần phải trả trợ cấp thôi việc cho người nước ngoài vì thực tế khi giao kết Hợp đồng, Người lao động nước ngoài không quan tâm đến điều này nhưng nếu doanh nghiệp không chi trả thì bị bắt lỗi khi khách hàng audit.

2.             Hoặc là cho phép người nước ngoài tham gia BHTN và họ sẽ hưởng Trợ cấp thất nghiệp từ Cơ quan BHXH như Lao động VN.

13. Mức thu BHTN và Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp không cân đối

Điều 58 luật việc làm quy định về việc đóng bảo hiểm thất nghiệp và văn bản 4064/BHXH – THU quy định đóng bảo hiểm thất nghiệp áp dụng từ ngày 01/01/2015. Các điểm quan trọng về đóng bảo hiểm thất nghiệp như sau:

-      Tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp tối đa là 62 triệu (gấp 20 lần mức lương tối thiểu vùng) (Điều 50 của luật việc làm)

-      Trong khi đó, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa: 15,5 triệu (gấp 5 lần mức lương tối thiểu vùng), không phải mức hưởng 60% * 62 triệu = 37,2 triệu (Điều 50 của luật việc làm)

Người Lao động & Doanh nghiệp bức xúc về mức thu và mức hưởng cần ngang bằng

Đề xuất điều chỉnh: Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp dựa trên mức mà NLĐ và NSDLD đã tham gia BHTN

Ngọc Thủy
BTV. Nguyễn Thị Ngọc Thủy

Chức danh: Chuyên gia thị trường ngành hàng Nhuyễn thể.

Tel: 024. 37715055 - ext.202

Mobile: 0914.942.832

Email: ngocthuy@vasep.com.vn

Mọi góp ý và hỗ trợ liên quan đến thông tin ngành hàng Nhuyễn thể, xin vui lòng liên hệ: Ms Nguyễn Ngọc Thủy

Email: ngocthuy@vasep.com.vn, Tel: 84 - 024 37715055 (ext: 202)

Thích, chia sẻ và bình luận bài viết này
Nhấn
Để nhận tin tức mới nhất, nóng nhất về ngành Thủy sản Việt Nam.
-- Kết bạn với VASEP trên Facebook --

BẢN TIN THƯƠNG MẠI THỦY SẢN

FTA

Trang thông tin điện tử của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP)
Cơ quan Chủ quản: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP)
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcmcity@vasep.com.vn

VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn

Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn

Đang online: 1584

Tổng lượt truy cập: 119581702

Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông.
Đề nghị ghi rõ nguồn www.vasep.com.vn khi sử dụng thông tin từ trang này.