Nên hay không giảm giờ làm việc tiêu chuẩn?

Nên hay không giảm giờ làm việc tiêu chuẩn?

Thứ 2, 04/11/2019 | 07:35 GTM +07

Theo pháp luật lao động hiện hành, người sử dụng lao động có quyền quy định làm việc theo tuần nhưng không quá 48 giờ trong 01 tuần. Cụ thể, Khoản 2 Điều 104 BLLĐ năm 2012 quy định: “Người sử dụng lao động có quyền quy định làm việc theo giờ hoặc ngày hoặc tuần; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày, nhưng không quá 48 giờ trong 01 tuần. Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ.”

Tuy nhiên, nội dung này đã được đề xuất sửa đổi theo phương án 2 Điều 107 Dự thảo BLLĐ ngày 11/8/2019 như sau:

Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho người lao động biết, trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày, nhưng không quá 44 giờ trong 01 tuần.”.

Như vậy, theo Dự thảo BLLĐ mới, thời giờ làm việc bình thường theo tuần sẽ giảm xuống 04 giờ so với quy định hiện hành, chỉ còn 44 giờ/tuần.  

Qua tham khảo pháp luật các nước có thể thấy việc quy định thời giờ làm việc trong khoảng 40 – 44 giờ/tuần đa phần đều thuộc về các quốc gia phát triển; còn tiêu chuẩn về thời giờ làm việc trong tuần của các quốc gia đang phát triển và đang cạnh tranh lao động gay gắt với Việt Nam (là các “đối thủ nặng ký” của Việt Nam khi xuất khẩu hàng hóa) như Thái Lan, Ấn Độ, Bangladesh, Malaysia, Philippines, Lào,…đều là 48 giờ/ tuần. Hiện nay, Việt Nam là một trong nhóm các quốc gia đang phát triển nên quy định 48 giờ/tuần là hoàn toàn phù hợp. 

Theo số liệu thống kê của ngân hàng thế giới về GDP (USD/người) và nghiên cứu về thời gian làm việc của 18 quốc gia gồm các nước tại Asean và một số nước thuộc khu vực Châu Á có điều kiện tương tự Việt như sau :

Trong 18 nước nghiên cứu, có:

ü06 nước qui định dưới 48 giờ.

ü01 nước trên 48 giờ là Hàn quốc với 52 giờ.

ü11 nước có giờ làm việc là 48 giờ.

Đa số các nước có GDP dưới 3.000 USD/người (gồm 08 nước trong đó có Việt Nam) đều đang quy định làm việc 48 giờ/tuần.

Mặt khác, trình độ phát triển, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đang ở mức thấp, trong khi chi phí làm thêm giờ lại cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Do đó, việc giảm thời giờ làm việc xuống 44 giờ/tuần trong khi đại đa số các nước vẫn duy trì thời giờ làm việc 48 giờ/tuần sẽ làm suy giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam so với các doanh nghiệp nước ngoài khi cùng xuất khẩu một mặt hàng hoặc cùng bán hàng tại một thị trường.

Ví dụ như cùng xuất hàng vào thị trường EU, trong khi Thái Lan duy trì thời gian làm việc 48 giờ/tuần, đẩy cao được sản lượng lao động trong 1 ngày làm việc và giữ giá xuất khẩu ở mức thấp; thì Việt Nam, giả định do việc phải duy trì thời gian làm việc 44 giờ/tuần nên để đáp ứng sản lượng hàng hóa và tiến độ giao hàng theo đơn đặt hàng sẽ phải tăng giờ làm thêm, cùng với đó là tăng lũy tiến tiền làm thêm sẽ dẫn đến tăng giá sản phẩm khi xuất khẩu. Vì thế sẽ ảnh hưởng tới các đơn hàng của doanh nghiệp Việt Nam vì người mua chắc chắn sẽ chọn các doanh nghiệp Thái Lan với giá hàng thấp hơn. Đó là chưa tính đến năng suất lao động của người lao động Việt Nam đang thấp hơn so với năng suất lao động của người lao động Thái Lan và thương hiệu quốc gia của Thái Lan về xuất khẩu một số mặt hàng đang được thị trường quốc tế đánh giá cao hơn Việt Nam.

Với thời giờ làm việc tiêu chuẩn là 48 giờ/ tuần như hiện nay, doanh nghiệp vẫn phải tổ chức làm thêm giờ mới có thể đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh. Do vậy, nếu thời gian làm việc tiêu chuẩn bị cắt giảm như dự kiến trong Dự thảo BLLĐ mới thì chắc chắn các doanh nghiệp sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, gây mất niềm tin của khách hàng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp nội địa dần dần sẽ không còn đơn đặt hàng nào từ khách hàng dẫn tới phải đóng cửa, giải thể doanh nghiệp.

Việc giảm giờ làm việc trong bối cảnh Việt Nam hiện nay sẽ làm gia tăng gánh nặng khó khăn cho doanh nghiệp. Chi phí cho sản xuất và nhân công sẽ tăng kéo theo giá thành xuất xưởng của sản phẩm sẽ tăng. Các doanh nghiệp nội địa không chịu được áp lực về chi phí sẽ phải thu hẹp sản xuất, thậm chí đóng cửa, giải thể khiến người lao động mất việc làm, tình trạng thất nghiệp tràn lan, kéo theo hệ lụy vô cùng lớn cho toàn xã hội, nảy sinh tình trạng “nhàn cư vi bất thiện”, nhiều tệ nạn xã hội gia tăng, ảnh hưởng đến lợi ích và sự phát triển bền vững của quốc gia.

Đồng thời, sức cạnh tranh về nguồn lực lao động của Việt Nam trên trường quốc tế cũng sẽ giảm đi đáng kể, từ đó Việt Nam sẽ giảm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài do các doanh nghiệp FDI sẽ di chuyển sang các nước khác có chi phí nhân công cạnh tranh hơn (như Ấn Độ, khối lượng công việc ở Việt Nam theo đó cũng sẽ giảm đi đáng kể, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, khó đảm bảo nhịp độ tăng trưởng GDP.

Bên cạnh đó, nguồn thuế của doanh nghiệp đóng góp cho ngân sách nhà nước sẽ bị sụt giảm đi đáng kể, ảnh hưởng nhất định tới việc thực hiện chế độ an sinh xã hội cho người dân.

Mặt khác, việc giảm thời giờ làm việc làm việc xuống 44 giờ/tuần và nếu doanh nghiệp không có khả năng bố trí làm thêm giờ theo thỏa thuận với người lao động thì số lượng hàng hóa, sản phẩm dịch vụ cung ứng ra thị trường tương ứng sẽ bị giảm theo, khi đó doanh thu của doanh nghiệp và chế độ lương, thưởng của người lao động cũng sẽ bị giảm theo, đặc biệt là những người lao động làm việc theo phương thức khoán sản phẩm thì tác động tiêu cực đến thu nhập của họ từ việc giảm giờ làm là rõ ràng và trực tiếp nhất. Với hình thức trả lương sản phẩm, lương của người lao động phụ thuộc vào sản phẩm làm ra tính theo một đơn vị thời gian, thông thường là tính theo “ngày làm việc”. Với việc các doanh nghiệp buộc phải kéo giờ làm việc xuống 44 giờ/tuần (như kịch bản trong Dự thảo BLLĐ mới) sẽ dẫn đến số lượng sản phẩm của người lao động giảm, lương và các thu nhập khác cũng sẽ giảm theo. 

Tạ Hà

Chức danh: Trưởng Ban Biên tập Bản tin tuần Thương mại Thủy sản (phát hành thứ Sáu hàng tuần); Chuyên gia thị trường ngành hàng cá Tra.

Tel: 024. 37715055 - ext. 214

Mobile: 0948.534.883

Email: taha@vasep.com.vn

Thích, chia sẻ và bình luận bài viết này
Nhấn
Để nhận tin tức mới nhất, nóng nhất về ngành Thủy sản Việt Nam.
-- Kết bạn với VASEP trên Facebook --

BẢN TIN THƯƠNG MẠI THỦY SẢN

FTA

Trang thông tin điện tử của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP)
Cơ quan Chủ quản: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP)
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcmcity@vasep.com.vn

VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn

Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn

Đang online: 1349

Tổng lượt truy cập: 120567471

Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông.
Đề nghị ghi rõ nguồn www.vasep.com.vn khi sử dụng thông tin từ trang này.