Báo cáo thủy sản

Báo cáo Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam(32) Báo cáo Xuất khẩu Thủy sản (hàng quý)(3) Báo cáo Thị trường Thủy sản(14) Báo cáo ngành hàng thủy sản 2009 - 2018(7)
Hiển thị báo cáo theo thị trường
Theo sản phẩm

CBI: báo cáo thị trường cá Tra tại EU

Thị trường : -
Sản phẩm:
(Ngày đăng: 20/03/2013)

(vasep.com.vn) Trung tâm Xúc tiến Nhập khẩu từ các nước đang phát triển (CBI) và Tổ chức Sáng kiến Thương mại Bền vững (IDH) của Hà Lan đã phối hợp thực hiện nghiên cứu thị trường nhằm khai thác tiềm năng thị trường của cá tra đạt chứng nhận ASC tại thị trường EU. Mục tiêu của nghiên cứu là điều tra về những lợi ích tiềm năng trong ngắn hạn và dài hạn đối với các nhà đầu tư để đầu tư vào sản xuất cá tra có thương hiệu gắn liền với chứng nhận ASC, đối với các phân khúc dịch vụ thực phẩm và bán lẻ tại thị trường EU. VASEP xin trân trọng giới thiệu Báo cáo nghiên cứu của CBI và IDH về thị trường cá tra tại EU, cụ thể tại 6 nước thành viên EU gồm Hà Lan, Anh, Đức, Italy, Tây Ban Nha và Ba Lan. Báo cáo đã được CBI công bố vào tháng 12/2012.

  

Nội dung Báo cáo:

1.            Giới thiệu

1.1          Tổng quan

1.2          Mục tiêu

1.3          Câu hỏi cụ thể

1.4          Bước tiếp cận

1.5          Cấu trúc

2.            Thị trường cá thịt trắng EU

2.1          Bối cảnh

2.2          Thị trường cá thịt trắng EU

2.3          Cá tra tại thị trường EU

2.4          ASC so với MSC

3.            Dữ liệu tại từng quốc gia

3.1          Hà Lan

3.2          Anh

3.3          Đức

3.4          Italy

3.5          Tây Ban Nha

3.6          Ba Lan

4.            Kết luận

Phụ lục 1. Chuỗi cung cấp cá tra

Phục lục 2. Xu hướng giá nhập khẩu philê cá thịt trắng đông lạnh

Phục lục 3. Nhập khẩu philê cá thịt trắng đông lạnh

Biên dịch: Ngọc Thủy – Ngọc Hà

 

 1.        Giới thiệu

1.1          Tổng quan
Hội đồng Quản lý Nuôi trồng thủy sản (ASC) đặt mục tiêu trở thành chương trình chứng nhận hàng đầu trong nuôi trồng thủy sản toàn cầu. Để phát triển sản xuất và đẩy mạnh nhu cầu cá tra đạt ASC, điều tiên quyết là cần hiểu kỹ về sự phát triển của vị trí thị trường nói chung của cá tra và khái niệm về cá tra có thương hiệu gắn liền với chứng nhận ASC. Do đó, Trung tâm Xúc tiến Nhập khẩu từ các nước đang phát triển (CBI) và Tổ chức Sáng kiến Thương mại Bền vững (IDH) đã phối hợp thực hiện nghiên cứu thị trường nhằm khai thác tiềm năng thị trường của cá tra đạt chứng nhận ASC tại thị trường EU.
1.2          Mục tiêu
Mục tiêu của nghiên cứu là điều tra về những lợi ích tiềm năng trong ngắn hạn và dài hạn đối với các nhà đầu tư để đầu tư vào sản xuất cá tra có thương hiệu gắn liền với chứng nhận ASC, đối với các phân khúc dịch vụ thực phẩm và bán lẻ tại thị trường EU.
1.3          Câu hỏi cụ thể
Nghiên cứu trả lời những câu hỏi cụ thể để đạt được mục tiêu trên:
  • Các công ty kinh doanh dịch vụ thực phẩm và bán lẻ định vị như thế nào về cá tra?
  • Quan điểm của nhà quản lý thu mua ngắn hạn (< 3 năm) và dài hạn (3 – 5 năm) đối với cá thị trắng tại các phân khúc thị trường dịch vụ thực phẩm và bán lẻ với sự tập trung vào cá tra, có/không có thương hiệu gắn với chứng nhận ASC?
  • Việc tăng giá cá tra đạt ASC có tác động thế nào đến nhu cầu tại các phân khúc thị trường dịch vụ thực phẩm và bán lẻ?
  • Có hy vọng tăng giá bán ngắn hạn (< 3 năm) và dài hạn (3-5 năm) đối với sản phẩm cá tra đạt chứng nhận hay không?
1.4          Bước tiếp cận
Để khai thác tiềm năng thị trường của cá tra ASC, CBI và IDH đã thực hiện nghiên cứu tại 6 nước thành viên EU gồm Hà Lan, Anh, Đức, Italy, Tây Ban Nha và Ba Lan. Sáu nước này chiếm 71% tổng lượng NK cá tra vào EU năm 2011. Nghiên cứu dựa trên phỏng vấn các cán bộ phụ trách thu mua của các công ty NK, bán lẻ và kinh doanh dịch vụ thực phẩm hàng đầu.
1.5          Cấu trúc
Báo cáo gồm 4 chương. Chương 2 giới thiệu về toàn cảnh thị trường cá thị trắng EU và thị trường cá tra. Chương 3 cung cấp các dữ liệu chính về ngành bán lẻ và dịch vụ thực phẩm tại từng nước tham gia nghiên cứu. Chương 4 so sánh và đánh giá kết quả thu được từ 6 nước trên. Phụ lục 1 giới thiệu về chuỗi cung cấp cá tra tại Tây Ban Nha kèm theo biên độ giá tương ứng. Phụ lục 2 cũng cấp thông tin về xu hướng biến động giá NK philê cá thịt trắng đông lạnh. Phụ lục 3 về khối lượng NK philê cá thịt trắng đông lạnh năm 2011 và nửa đầu 2012.

 2.           Thị trường cá thịt trắng EU

2.1          Bối cảnh
Tiêu thụ cá tại EU liên tục tăng và luôn cao hơn khả năng sản xuất của các nước tại EU. Theo Hiệp hội Các nhà Chế biến và Kinh doanh thủy sản EU (AIPCE-CEP), quy mô thị trường thủy sản EU (gồm sản xuất và NK cá thịt trắng, cá hồi, cá ngừ, các loài cá nổi, surimi, tôm và mực-bạch tuộc) đạt khoảng 14,7 triệu tấn thủy sản (cân hơi) năm 2011. Mức độ phụ thuộc của EU vào NK thủy sản là 65%. Nguồn cung cá thịt trắng khai thác tại EU đạt 2,9 triệu tấn, chiếm 20% thị phần thủy sản tại EU. Mức độ phục thuộc vào cá thịt trắng khai thác của EU rất cao vào khoảng 90%.
Năm 2012, EU có khoảng 504 triệu người sinh sống. Theo dự đoán của EUROSTAT, con số này sẽ tăng lên xấp xỉ 508 triệu vào năm 2015 (tăng thêm 4,6 triệu người). Ước tính trung bình mỗi người dân Châu Âu tiêu thụ 22,1kg thủy sản/năm (số liệu năm 2007), nên nhu cầu thủy sản sẽ tăng thêm tổng cộng 100.000 tấn trong 3 năm tới. Điều này có nghĩa là khoảng 20% của mức tăng này, tương đương với 20.000 tấn, là để bổ sung cho nhu cầu cá thịt trắng. Do đó, dự kiến nhu cầu cá thịt trắng sẽ tăng <1% trong 3 năm tới. Mức tăng này chưa bao gồm sự thay đổi sức mua của người tiêu dùng phụ thuộc vào khủng hoảng kinh tế.
Trong 20 năm qua, sản lượng nuôi cá thị trắng nước ngọt toàn cầu tăng trưởng nhanh chóng so với sản lượng từ khai thác. Tuy nhiên, theo tính toán trong giai đoạn 2008 – 2013, dự báo sản lượng cá thịt trắng khai thác toàn cầu sẽ tăng 4,6% so với cá nuôi nước ngọt. Đây là một sự thay đổi xu hướng lớn.
2.2          Thị trường cá thịt trắng EU
Cá rô phi và cá tra là hai loài cá thịt trắng nuôi chính của thị trường EU cho sản phẩm cá philê đông lạnh. Các loài cá quan trọng khác đều từ nguồn khai thác như cá tuyết cod và haddock Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, cá minh thái Alaska, cá tuyết lục và cá hake. Đồ thị 1 cho thấy sự phát triển quy mô thị trường cá thịt trắng EU năm 2005 – 2011 đối với cá thịt trắng khai thác, cá tra và các loài cá thịt trắng nuôi khác theo số liệu của AIPCE-CEP. Tăng NK cá tra là nguyên nhân chính giúp phát triển thị trường cá thịt trắng EU từ năm 2005 đến năm 2008. Giai đoạn này, nguồn cung cấp cá thịt trắng khai thác giảm. Sau lần sụt giảm năm 2009, nguồn cung cá thịt trắng khai thác bắt đầu tăng trong khi NK cá tra chững lại.
Giá NK philê cá thịt trắng đông lạnh dao động tùy theo từng loài cụ thể (Bảng 1). Năm 2011, cá tuyết philê đông lạnh (Đại Tây Dương và Thái Bình Dương) và cá haddock có giá NK cao nhất, trong khi cá hake miền Bắc, cá minh thái Alaska và cá tra là sản phẩm cá thịt trắng đông lạnh philê có giá thấp nhất. Dữ liệu về biến động giá NK philê cá thịt trắng đông lạnh năm 2007 – 2011 được trình bày tại Phụ lục 2. Do thị trường cá thịt trắng EU phụ thuộc nhiều vào nguồn cá thịt trắng NK bên ngoài nên tỷ giá EUR/USD ảnh hưởng lớn đến sự biến động giá tại thị trường cá thịt trắng.
  
Bảng 1: Khối lượng và giá nhập khẩu philê cá thịt trắng đông lạnh vào EU năm 2011

Loài
KL (tấn)
Giá (EUR/kg)
Loài
KL (tấn)
Giá (EUR/kg)
Cá tuyết cod Đại Tây Dương
178.000
4,45
Cá hake Argentina
47.000
3,00
Cá haddock
45.000
3,94
Cá rô phi
21.000
2,95
Cá tuyết cod Thái Bình Dương
28.000
3,80
Cá hake phương Bắc
27.000
2,38
Cá tuyết lục
63.000
3,71
Cá minh thái Alaska
324.000
2,30
Cá hake Cape
61.000
3,56
Cá tra
205.000
1,99

Năm 2011, các loại sản phẩm khác như thịt cá đông lạnh nói chung có giá trung bình thấp hơn. Cá minh thái Alaska có giá 1,52 EUR/kg, cá tuyết Đại Tây Dương có giá 2,53 EUR/kg. Giá các loài khác trên thị trường như cá tuyết Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, cá minh thái Alaska, cá tuyết lục biến động trong năm do yếu tố mùa vụ, với mùa khai thác chính bắt đầu từ những tháng đầu năm. Phụ lục 3 cung cấp dữ liệu về khối lượng NK cá tra và philê cá thịt trắng khác năm 2011 và sự tăng/giảm trong NK của thị trường EU và của 6 nước tham gia nghiên cứu trong nửa đầu năm 2012 so với nửa đầu năm 2011.
Bảng 2: Khối lượng nhập khẩu và thị phần các loài cá thịt trắng chính năm 2007 – 2011 (philê đông lạnh)

 
KL 2011 (tấn)
Thị phần (%)
2007 so với 2011 (%)
Hà Lan
84.000
9
-4
Đức
247.000
25
2
Italy
54.000
6
42
Anh
143.000
15
5
Tây Ban Nha
125.000
13
16
Ba Lan
70.000
7
-16
Các nước khác
256.000
26
23
Tổng
979.000
100
8
Nguồn: Eurostat, 2012

Đối với các loài cá thịt trắng nêu trong Bảng 1, xu hướng tăng/giảm khối lượng NK philê đông lạnh từ 2007 – 2011 được trình bày trong Bảng 2 (trừ cá rô phi do không thu thập được số liệu từ năm 2007 – 2009). Năm 2011, Đức là nhà NK lớn nhất chiếm 25% tổng lượng NK, tiếp đến là Anh (15%) và Tây Ban Nha (13%). So với năm 2007, chỉ có Hà Lan và Ba Lan giảm khối lượng NK philê cá thị trắng đông lạnh. NK vào Ba Lan giảm chủ yếu do giảm NK cá tra. NK philê cá thịt trắng đông lạnh của Italy tăng mạnh 42% do tăng NK cá hake các loại. Tăng NK cá tra và cá tuyết Đại Tây Dương khiến NK tăng 16%. Đức và Anh đạt mức tăng trưởng dưới 5%.
2.3          Cá tra tại thị trường EU
Xu hướng phát triển chính tại thị trường EU năm 2005 – 2011
Trong giai đoạn 2007 – 2010, tổng lượng NK cá tra vào EU tăng 52% (Đồ thị 2). Trong đó, các thị trường lớn như Tây Ban Nha, Đức, Anh tăng NK trong khi NK vào Hà Lan và Italy biến động. Riêng Ba Lan giảm mạnh NK cá tra từ năm 2008. Năm 2011, NK của EU bắt đầu giảm sau nhiều năm tăng trưởng. NK vào thị trường này năm 2011 giảm xuống bằng mức năm 2008. So với năm 2010, NK giảm 12% về khối lượng và 2% về giá trị; giá NK trung bình tăng từ 1,79 EUR/kg lên 1,99 EUR/kg. Hầu hết các nước đều giảm NK, riêng Italy tăng 21%. Tuy nhiên mức tăng NK cá tra vào EU năm 2010 so với
năm 2009 không thể hiện sự phát triển của thị trường cá thịt trắng EU trong Đồ thị 1 bởi NK vào EU còn bao gồm cả trao đổi thương mại trong nội khối (ví dụ Italy NK cá tra thông qua Hà Lan). NK trực tiếp cá tra từ Việt Nam vào EU năm 2010 đạt 208.000 tấn, thấp hơn mức 216.000 tấn năm 2009.
Năm 2011, giá NK trung bình vào EU đạt 1,99 EUR/kg. Giá NK cá tra dao động tùy theo từng nước (Bảng 3). Giá dao động theo chỉ số về các yêu cầu khác nhau về sản phẩm của từng quốc gia. Nhìn chung, Anh và Hà Lan có yêu cầu cao đối với chất lượng sản phẩm và tính bền vững, do đó trả giá cao hơn cho thủy sản NK. Tây Ban Nha và Ba Lan có yêu cầu thấp hơn nên giá NK cũng thấp hơn.
Bảng 3: Giá trung bình NK cá tra năm 2011 (EUR/kg)
Trung bình tại EU
Hà Lan
Anh
Đức
Italy
Tây Ban Nha
Ba Lan
1,99
2,13
2,48
2,08
2,03
1,90
1,64
Nguồn: Eurostat, 2012
Năm 2011, một số nước EU tái XK cá tra:
-               Hà Lan XK nhiều nhất cá tra sang các nước láng giềng với 10.700 tấn;
-               Đức XK 8.200 tấn chủ yếu sang các nước Trung và Đông Âu;
-               Ba Lan XK 1.600 tấn chủ yếu sang các nước Đông Âu.
Tình hình thị trường năm 2012
Trong nửa đầu năm 2012, NK cá tra của EU giảm mạnh 26% từ 107.000 tấn trong năm 2011 xuống còn 79.000 tấn. Giai đoạn này, giá trung bình NK cá tra của EU tăng lên 2,18 EUR/kg. Tuy nhiên, theo Globefish, giá NK giảm đáng kể tại Tây Ban Nha trong giai đoạn từ tháng 6 – 10/2012. Bảng 4 cho thấy khối lượng NK cá tra vào 6 thị trường trên sụt giảm mạnh.
Nhập khẩu cá tra vào EU, 2007 – 2011 (tấn)

Tây Ban Nha
Ba Lan
Đức
Hà Lan
Italy
Anh
Các nước EU khác

Bảng 4: Tăng, giảm khối lượng nhập khẩu cá tra trong nửa đầu năm, 2011/2012

Trung bình tại EU
Hà Lan
Anh
Đức
Italy
Tây Ban Nha
Ba Lan
-26
-25
-15
-40
-7
-21
-46
Nguồn: Eurostat, 2012

Trong khi thị trường EU chững lại, cá tra trở nên phổ biến tại các thị trường khác. NK cá tra từ Việt Nam của Mỹ tăng 36% từ 35.000 tấn năm 2011 lên 47.000 tấn trong nửa đầu năm 2012. Năm 2011, cá tra đứng thứ 6 trong các loài thủy sản được ưa chuộng nhất với mức tiêu thụ bình quân đầu người 0,6 pao (=2,7kg). Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, 11 tháng đầu năm 2012, giá trị XK cá tra sang EU giảm 19,4%. Trong khi đó, XK sang Mỹ tăng 14,1%. Cá tra còn có các thị trường quan trọng khác là Mexico và Brazil. Mười một tháng đầu năm 2012, XK sang Mexico duy trì mức cùng kỳ năm 2011. XK sang Brazil giảm 8,2%. XK sang Trung Quốc và Hồng Kông tăng mạnh 33,9%.
2.4          ASC và MSC
Chứng nhận của Hội đồng Quản lý Biển (MSC) là chương trình chứng nhận bền vững quan trọng nhất cho thủy sản khai thác. Tại khu vực Nam Âu, Friend of the Sea (FOS) cũng được áp dụng như một chương trình chứng nhận thủy sản. Một số nghề khai thác cá thịt trắng chính như cá minh thái Alaska, cá tuyết cod, haddock, hake, cá hoki và cá tuyết lục đều được chứng nhận MSC hoặc đang trong quá trình đánh giá cho chứng nhận này. Thủy sản đạt chứng nhận MSC chiếm gần 8% tổng sản lượng khai thác nghề cá. Chứng nhận bền vững cho nuôi trồng thủy sản cũng đang phát triển hơn. Trước khi ra đời chương trình chứng nhận của Hội đồng Quản lý Nuôi trồng thủy sản (ASC), GlobalGAP là chương trình chứng nhận chính tại EU. Tại Mỹ, Hội đồng Chứng nhận Nuôi trồng thủy sản (ACC) cũng là một chương trình chứng nhận quan trọng. Tại Bắc Âu, một số chuỗi bán lẻ đặt mục tiêu trong tương lai chỉ kinh doanh sản phẩm được chứng nhận (ưu tiên sản phẩm đạt chứng nhận MSC hoặc ASC). Năm 2012, khoảng 60.000 tấn sản phẩm thủy sản đạt ASC được tiêu thụ trên thị trường.

3.           Dữ liệu tại từng quốc gia

3.1. Hà Lan

Thông tin cơ bản

Tại Hà Lan, 93% lượng cá tra trên thị trường được tiêu thụ ở phân khúc bán lẻ, 7% còn lại tiêu thụ tại phân khúc dịch vụ thực phẩm. Bảng 5 biểu thị giá bán lẻ cá tra và các loài cá thịt trắng khác. Trong nhóm hàng đông lạnh, cá tra và cá minh thái Alaska có giá thấp nhất.  Cá tra đạt ASC có giá cao hơn 25% so với cá chưa đạt chứng nhận. Cá tuyết lục, cá rô phi và cá tuyết cod là các loài cá thịt trắng chính tại thị trường này.

Bảng 5: Giá bán lẻ cá tra và các loài cá thịt trắng khác

Sản phẩm

Nhóm hàng tươi (philê, EUR/kg)

Nhóm hàng đông lạnh (philê, EUR/kg)

Cá tra

12,48 – 16,90

4,65 – 4,79

5,82 (ASC)

Cá minh thái Alaska

-

3,98 – 6,83

Cá tuyết lục

-

4,98 – 5,75

Cá rô phi

14,90

7,61 – 8,32

Cá tuyết

21,98 – 22,39

8,82 – 9,08

Phân khúc bán lẻ

Vị trí hiện tại của cá tra trên thị trường

·         Năm 2011, cá tra là loài có khối lượng tiêu thụ lớn nhất tại thị trường bán lẻ Hà Lan, chiếm hơn 20% thị phần thủy sản đông lạnh và 18% thị phần cá tươi.

·         Cá tra được bán như một sản phẩm giá trị thấp. Trong nhóm hàng đông lạnh, đối thủ lớn nhất của cá tra là cá minh thái Alaska và cá tuyết lục. Có thời điểm, block cá minh thái Alaska và cá tuyết lục được bán với giá thấp hơn. Trong nhóm hàng tươi, cá rô phi và cá tuyết cod là đối thủ cạnh tranh của cá tra và đều có giá cao hơn.

·         Chứng nhận bền vững được đánh giá cao tại thị trường này và ASC được coi là tiêu chuẩn chính cho cá tra.

Vị trí của cá tra trong tương lai

·         Thị trường bán lẻ thủy sản đang có xu hướng tăng mạnh nhu cầu sản phẩm tiện lợi và có thể truy xuất.

·         Về ngắn hạn, dự đoán giá cá tra vẫn giữ vị trí là loài cá thịt trắng có giá thấp hơn. Chứng nhận ASC có vai trò quan trọng để nâng cao hình ảnh và duy trì vị trí của cá tra trên thị trường.

·         Về dài hạn, giá cá sẽ tăng nhẹ do tăng chi phí sản xuất, do đó sẽ phải cạnh tranh nhiều hơn với các loài cá thịt trắng khai thác khác.

Dự báo những ảnh hưởng của tăng giá bán cá đạt chứng nhận đối với nhu cầu trên thị trường

·         Cuối năm 2013 hoặc cuối 2014, thị trường bán lẻ Hà Lan sẽ chỉ kinh doanh cá tra đạt ASC. ASC sẽ thay thế GlobalGAP trở thành chương trình chứng nhận chủ chốt. Dù một số nhà cung cấp đã bán cá tra đạt ASC từ năm 2012, một số khác cho biết thời điểm bán cá ra thị trường còn phụ thuộc vào việc có sẵn nguồn cá tra trên thị trường và thời hạn hết hạn những hợp đồng đã ký.

·         Hầu hết người tiêu thụ cá tra đều chọn lựa nghiêng về tiêu chí giá cả. Do đó, tăng giá bán có thể ảnh hưởng tiêu cực tới nhu cầu cá tra. Nếu giá cá giữ ổn định hoặc chỉ tăng nhẹ, tiêu thụ cá tra sẽ không biến động nhiều.

Dự báo mức tăng giá cá đạt chứng nhận

·         Các nhà sản xuất cá tra đạt ASC đầu tiên của Việt Nam chào giá cá cao hơn từ 10 – 20% so với giá thông thường. Một số nhà NK cho biết sẽ tính toán tăng giá bán lẻ đối với các khách hàng. Tuy nhiên, mức tăng của các nhà NK này thấp hơn mức họ phải trả thêm cho các nhà cung cấp Việt Nam. Một số nhà NK khác chưa chắc chắn liệu khách hàng có sẵn sàng trả mức giá cao hơn. Về ngắn hạn, nhà NK hy vọng mua cá với giá tăng dưới 10%. Về dài hạn, biên độ tăng giá chỉ từ 1 – 2%.

·         Một nhà bán lẻ của Hà Lan bán philê cá tra đông lạnh với giá cao hơn 10 – 25% so với sản phẩm cùng loại không có thương hiệu bán tại các siêu thị.

Phân khúc dịch vụ thực phẩm                                             

Vị trí hiện tại của cá tra trên thị trường

·         Tiêu thụ cá tra tại phân khúc dịch vụ thực phẩm đạt thấp hơn so với phân khúc bán lẻ. Các công ty dịch vụ thực phẩm nhỏ lẻ thường có đối tượng khách hàng nhạy cảm về giá cả và có yêu cầu ít khắt khe hơn về tính bền vững. Do đó, các công ty nhỏ này nghiêng về bán cá philê đông lạnh có giá thấp hơn và có chất phụ gia (nước, photphates hoặc protein), trong khi giới bán lẻ và các công ty kinh doanh dịch vụ thực phẩm lớn thường bán sản phẩm có giá cao hơn và không có chất phụ gia giữ nước.

·         Trong nhóm hàng đông lạnh, cá minh thái Alaska cạnh tranh nhiều nhất với cá tra. Ngoài ra còn có cá hoki và cá tuyết hake.

·         Các công ty dịch vụ thực phẩm lớn quan tâm tới tính bền vững và đã/hoặc đang dự định kinh doanh cá đạt ASC trước khi kết thúc năm 2012. Tình hình chưa rõ ràng đối với các công ty nhỏ. Một số công ty thậm chí còn không thu mua cá từ nguồn đạt chứng nhận GlobalGAP.

Vị trí của cá tra trong tương lai

·         Giống như tại thị trường bán lẻ, cá tra sẽ duy trì vị trí trên thị trường dịch vụ thực phẩm trong ngắn hạn. Trong khi về dài hạn, cá tra phải cạnh tranh nhiều hơn với các sản phẩm cá thịt trắng khác và việc tăng chi phí sản xuất có thể đe dọa đến vị trí của cá tra trên thị trường.

·         Thị phần sản phẩm đạt chứng nhận sẽ tăng lên tại các công ty dịch vụ thực phẩm lớn có yêu cầu khắt khe đối với chứng nhận bền vững. Các công ty nhỏ có yêu cầu ít khắt khe hơn. Nhu cầu của các công ty này với cá tra đạt ASC sẽ phụ thuộc vào việc tăng sản lượng cá tra đạt chứng nhận này. Nếu nguồn cung cá tra tăng lên, các công ty nhỏ có thể quay sang kinh doanh cá ASC về lâu dài.

Dự báo những ảnh hưởng của tăng giá bán cá đạt chứng nhận đối với nhu cầu trên thị trường

·         Các công ty dịch vu thực phẩm lớn quan tâm tới việc kinh doanh cá tra đạt ASC. Việc giá tăng nhẹ có thể không tác động tới nhu cầu cá tra đạt ASC. Đối với các công ty nhỏ, tăng giá bán cá tra đạt ASC sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nhu cầu bởi đối với họ chứng nhận ASC không đồng nghĩa với giá trị gia tăng.

·         Một công ty dịch vụ thực phẩm lớn đã kinh doanh cá tra đạt ASC nhưng vẫn tiếp tục bán cá chưa được chứng nhận ASC do không phải tất cả các khách hàng (chẳng hạn như các nhà hàng Trung Quốc) không coi chứng nhận ASC là sản phẩm giá trị gia tăng.

Dự đoán mức tăng giá cá đạt chứng nhận

·         Các công ty thực phẩm mua trực tiếp cá từ các nhà cung cấp Việt Nam chào giá cá tra đạt ASC tăng 20%. Hiện nay, giá cá tăng ở mức dưới 10%. Một khi ASC trở thành một loại giấy phép để hoạt động, mức tăng giá sẽ xuống dưới 5%.

3.2. Anh

Thông tin cơ bản

Tại thị trường Anh, khoảng 80 – 85% số cá tra được tiêu thụ tại phân khúc dịch vụ thực phẩm, còn lại 15 – 20% được tiêu thụ tại phân khúc bán lẻ. Trong nhóm hàng tươi, cá tra là loài có giá trị thấp nhất. Trong nhóm hàng đông lạnh, cá minh thái Alaska được bán với giá thấp hơn cá tra. Cá haddock, cá tuyết cod và cá rô phi là các loài cá thịt trắng chính khác tại thị trường Anh.

Bảng 5: Giá bán lẻ cá tra và các loài cá thịt trắng khác (Tháng 2/2013, 1 EUR = 0,85 bảng)

Sản phẩm

Nhóm hàng tươi (philê, EUR/kg)

Nhóm hàng đông lạnh (philê, EUR/kg)

Cá tra

9,78

7,65

Cá minh thái Alaska

-

4,53

Cá haddock

10,59

8,51

Cá tuyết cod

12,94

8,51

Cá rô phi

21,40

8,82

Phân khúc bán lẻ

Vị trí hiện tại của cá tra trên thị trường bán lẻ

·         Cá tra là một nguồn protein cá thịt trắng có giá không đắt. Tại thị trường Anh, cá tra được bán với đa dạng sản phẩm tươi và đông lạnh như philê, hun khói, bao bột, sản phẩm giá trị gia tăng. Trong 12 tháng tính đến tháng 9/2012, tiêu thụ cá tươi chiếm khoảng 37% tổng lượng cá tra bán lẻ, cá đông lạnh chiếm 63%.

·         Cá tra được tập trung quảng cáo như một sản phẩm philê cá thịt trắng tươi hoặc đông lạnh, và cạnh tranh với cá minh thái Alaska, cá tuyết, cá haddock và cá hồi.

·         Hầu hết người tiêu dùng biết tới cá tra như một sản phẩm giá thấp; nhiều người tiêu dùng có quan niệm tiêu cực về cá tra do hậu quả của truyền thông bôi xấu cá tra trong giai đoạn 2004 – 2007.

·         Các nhà bán lẻ chủ yếu lo ngại về tính trung thực của thương hiệu và sự tuân thủ cam kết, do đó họ cố gắng đảm bảo hoạt động thu mua có trách nhiệm. Họ coi chứng nhận như một sự cam kết để đảm bảo thu mua có trách nhiệm và trong nhiều trường hợp chứng nhận là yêu cầu để tiếp cận thị trường. Nhìn chung, thu mua có trách nhiệm không được khách hàng đặc biệt yêu cầu vì họ tin tưởng rằng nhà bán lẻ có trách nhiệm đảm bảo điều này.

Triển vọng của cá tra trên thị trường

·         Về ngắn hạn, thị trường cá thịt trắng EU có thể tiếp tục phát triển do sản lượng khai thác các loài cá truyền thống chính như cá tuyết cod và haddock tăng, kéo giá cá thịt trắng giảm. Việc cá tra có thể đóng góp phần lớn vào sự tăng trưởng được dự báo ở trên phụ thuộc vào việc chi phí sản xuất có được duy trì ở mức thấp hay không. Thị phần chỉ có thể được giữ vững nếu đảm bảo được chất lượng sản phẩm và chi phí không tăng.

·         Về dài hạn, tăng chi phí sản xuất có thể khiến thị phần cá tra giảm so với các loài cá thịt trắng khác như cá tuyết. Mặt khác, Anh là thị trường của cá hồi nuôi nên nếu nâng cao được nhận thức của người tiêu dùng về cá tra như một sản phẩm nuôi có trách nhiệm, cá tra có thể trở thành loài cá giá trị thấp hơn thay thế cho cá hồi nuôi có giá cao và có thể chia sẻ thị phần với cá hồi.

Dự báo tác động của việc tăng giá cá tra đạt chứng nhận đối với nhu cầu trên thị trường

·         Chứng nhận ASC sẽ không ảnh hưởng tới thị phần cá tra tại phân khúc bán lẻ Anh. Đối với một số cửa hàng “tiên phong”, chứng nhận ASC có thể trở thành quy định để xâm nhập vào thị trường. Cá tra đạt chứng nhận ASC cũng sẽ không có giá cao hơn.   

·         Nhiều nhà bán lẻ từ chối trả thêm tiền cho cá tra đạt chứng nhận ASC. Các nhà bán lẻ cho rằng việc tăng thêm giá cho cá tra đạt chứng nhận ASC sẽ mất tính cạnh tranh của sản phẩm này. Các nhà bán lẻ sẽ không tăng giá cá tra vì suy thoái kinh tế cũng như phải cạnh tranh với các loài cá thịt trắng khác.

·         Không thể trông chờ các nhà bán lẻ ủng hộ chứng nhận ASC hơn chứng nhận Global GAP hoặc BAP vì chứng nhận này đối với họ chỉ là sự đảm bảo ban đầu và các nhà bán lẻ không tin rằng chứng nhận ASC có thêm giá trị hơn các chứng nhận khác.

Dự báo mức tăng giá cá tra đạt chứng nhận

·         Chứng nhận ASC chỉ như “giấy phép hoạt động” chứ không phải là “công cụ” để “điều khiển” giá. Cả trong ngắn hạn và dài hạn đều khó có thể trả thêm tiền cho cá tra đạt chứng nhận ASC cho dù chi phí sản xuất tăng do gần như không có sự khác nhau giữa các chương trình chứng nhận

Phân khúc dịch vụ thực phẩm

Vị trí hiện tại của cá tra trong phân khúc dịch vụ thực phẩm trên thị trường

·         Cá tra là một loài cá thịt trắng giá “mềm” thay thế cho cá tuyết (cod), cá tuyết chấm đen (haddock), cá minh thái Alaska và cá tuyết (hoki). Cá tra đã có những thành công nhất định trong chuỗi dịch vụ công, các nhà hàng phục vụ ăn uống, và các cửa hàng phục vụ ăn nhanh vì loài cá này có thể đưa vào các thực đơn như là món “fish and chips” thích hợp hơn là món “cod and chips”. Tiêu thụ cá tra tăng từ năm 2008 đến năm 2011 nhưng lại giảm trong năm 2012, trong khi thị phần cá tuyết (cod) lại hồi phục trong phân khúc dịch vụ thực phẩm.

·         Cũng giống như phân khúc bán lẻ, chứng nhận ASC trong phân khúc dịch vụ thực phẩm cũng rất cần thiết nhằm bảo đảm trách nhiệm và chống lại những tác động tiêu cực từ thực tiễn sản xuất.

Vị trí của cá tra trong tương lai

·         Thị trường phân khúc dịch vụ thực phẩm ở Anh hiện vẫn chưa khởi sắc và dự báo sẽ khó có thể thay đổi trong 3 năm tới.

·         Trong ngắn hạn, liệu cá tra có thể tăng thị phần ở phân khúc dịch vụ thực phẩm tại Anh hay không; dường như cá tra có thể theo kịp thị trường này. Do hạn ngạch cá tuyết tăng nhanh, nên các cửa hàng dịch vụ thực phẩm sẽ tìm nguồn cung cá tuyết nhằm thu hút người tiêu dùng quay trở lại với cá tuyết đạt chứng nhận MSC.

·         Trong dài hạn khó có thể dự báo xu hướng thị trường cá tra.  

Dự báo tác động của việc tăng thêm giá cá tra đạt chứng nhận ASC đối với nhu cầu trên thị trường

·         Các nhà sản xuất sẽ yêu cầu một mức giá cao hơn cho sản phẩm cá tra đạt chứng nhận ASC trong tương lai. Việc tăng thêm giá cho cá tra sẽ khiến sản phẩm này có mức giá bằng với giá của các sản phẩm cạnh tranh như cá tuyết (cod) và cá tuyết chấm đen (haddock) - vốn được ưa chuộng hơn cá tra khi 2 sản phẩm này có giá đồng mức. Tăng thêm giá cho cá tra sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới nhu cầu tiêu thụ sản phẩm này.

Dự báo mức tăng giá cá tra đạt chứng nhận ASC

·         Việc tăng giá cá tra trong thời buổi kinh tế khó khăn hiện nay là rất khó, kể cả trong thời gian dài hạn.

3.3. Đức

Thông tin cơ bản

Tại Đức, ước tính có khoảng 70-75% khối lượng cá tra bán tại phân khúc bán lẻ. 25-30% khối lượng còn lại bán trong phân khúc dịch vụ thực phẩm. Cá tra có giá trị thấp nhất trong phân khúc đông lạnh và tươi. Philê cá tra đông lạnh dán nhãn ASC được bán với mức giá cao hơn nhiều. Cá tuyết lục (Saithe) và cá tuyết (Cod) là 2 loài cá thịt trắng chủ lực trong phân khúc bán lẻ tại Đức.

Bảng 7: Giá bán lẻ cá tra và các loài cá thịt trắng khác (Tháng 1/2013)

Sản phẩm

Tươi (philê, euro/kg)

Đông lạnh (phile, euro/kg)

Cá tra

11,59

4,38 (12,00 - ASC)

Cá minh thái Alaska

-

5,49 – 7,13

Cá tuyết lục (Saithe)

11,69

17,96

Cá tuyết (Cod)

22,28

17,96 – 21,94

Phân khúc bán lẻ

Vị trí hiện tại của cá tra tại phân khúc bán lẻ trên thị trường

·         Người tiêu dùng chuộng sản phẩm phile cá tra thịt trắng và hồng nhạt đông lạnh hơn là bao bột bánh mỳ. Người Đức có truyền thống ăn cá minh thái Alaska và vị trí cạnh tranh của cá minh thái Alaska đang được cải thiện vì sản lượng khai thác ngày càng trở nên ổn định trong khi giá cá tra ngày càng cao hơn.

·         Hình ảnh của cá tra không được tốt đẹp cũng như không có một sự đầu tư quảng bá nào cho sản phẩm này. Chính vì vậy cần phải có một chiến dịch quảng bá sản phẩm này nhằm cải thiện hình ảnh cá tra cũng như tăng cường thương hiệu chứng nhận ASC, và làm cho người tiêu dùng chú ý hơn đến xu hướng tích cực trong sản xuất ban đầu.

·         Chứng nhận bền vững trong phân khúc bán lẻ đang tăng dần, đặc biệt là cá tra. Các nhà bán lẻ Đức cho rằng nhu cầu đối với sản phẩm chứng nhận bền vững không nhiều nhưng rõ ràng ngày càng có nhiều chương trình chứng nhận. Một số nhà bán lẻ mong muốn hợp nhất chứng nhận Global GAP và ASC.

Triển vọng của cá tra trên thị trường trong tương lai

·         Mặc dù NK cá tra vào Đức sụt giảm trong năm 2011 và 6 tháng đầu năm 2012, nhưng thị trường cá tra Đức dự kiến vẫn duy trì ổn định. Các nhà bán lẻ đều mong muốn chỉ bán cá tra đạt chứng nhận ASC chừng nào có đủ nguồn cung. Trong thời gian ngắn hạn, xu hướng phát triển cá tra đạt chứng nhận ASC còn phụ thuộc vào nguồn cung, thị trường cá thịt trắng cũng như nhận thức tích cực của người tiêu dùng về chứng nhận ASC. Cuối cùng, kinh tế phát triển cũng có ảnh hưởng đến xu hướng phát triển của sản phẩm cá tra đạt chứng nhận ASC.

·         Do sản lượng khai thác tăng nên khối lượng cá thịt trắng trên thị trường dự kiến cũng sẽ tăng trong dài hạn. Tăng thêm giá cho sản phẩm cá tra đạt chứng nhận ASC sẽ khiến cho sản phẩm này có giá cao hơn so với các thực phẩm giàu protein khác như thịt gia cầm. Điều này có thể làm ảnh hướng tới nhu cầu tiêu thụ của sản phẩm cá tra đạt chứng nhận ASC.

Dự báo tác động của việc tăng thêm giá cá tra đạt chứng nhận đối với nhu cầu trên thị trường

·         Tại Đức, cá minh thái Alaska có giá rẻ hơn và có hình ảnh tốt hơn cá tra. Vì vậy, cá minh thái Alaska là một loài cá thay thế quan trọng cho cá tra. Nếu giá cá tra tăng hơn thì sẽ ảnh hưởng tới nhu cầu tiêu thụ sản phẩm này.

Dự báo mức tăng giá cá tra đạt chứng nhận ASC.

·         Khi nhu cầu cá tra đạt chứng nhận ASC nhiều hơn hẳn nguồn cung thì người tiêu dùng mới có thể trả thêm tiền cho sản phẩm này. Số tiền trả thêm cho sản phẩm cá tra đạt ASC sẽ giảm hoặc không còn nếu cung lớn hơn cầu. Hiện nay, các nhà sản xuất cá tra đang phải trả thêm 10-15% chi phí cho sản phẩm này.

·         Trong dài hạn, cá tra đạt chứng nhận ASC sẽ không thể vắng mặt trong phân khúc bán lẻ Đức. Các nhà bán lẻ Đức không tin có 2 sản phẩm cá tra trên thị trường là sản phẩm không chứng nhận giá trị thấp và sản phẩm chứng nhận ASC giá trị cao. Điều này cho thấy chứng nhận ASC khó có thể đạt được vị trí cao cũng như công nhận của khách hàng giống như chứng nhận MSC.

Phân khúc dịch vụ thực phẩm

Vị trí hiện tại của cá tra trong phân khúc dịch vụ thực phẩm trên thị trường

·         Cá tra được biết tới như là một sản phẩm dễ sử dụng và có giá trị thấp không có hương vị giống như cá. Chính vì vậy, cá tra có sức hút trong phân khúc dịch vụ thực phẩm tại các nhà hàng bình dân và bệnh viên.

·         Cũng giống như phân khúc bán lẻ, hình ảnh của sản phẩm cá tra cũng không được tốt trong phân khúc dịch vụ thực phẩm. Mặc dù, quảng bá trong phân khúc dịch vụ thực phẩm ít làm nổi bật đối với sản phẩm riêng lẻ mà chỉ làm nổi bật hơn đối với hình ảnh chung của tập đoàn, nhưng quảng bá cá tra vẫn được chào đón trong phân khúc này.

·         Tương tự như phân khúc bán lẻ, phân khúc dịch vụ thực phẩm cũng rất quan tâm tới sản phẩm bền vững. Trên 80% sản phẩm thủy sản đạt chứng nhận đã có mặt trong một số tập đoàn lớn. Các chương trình chứng nhận có ưu thế nổi trội hơn gồm MSC và GlobaGAP. Tất cả các công ty được phỏng vấn đều cho rằng họ quan tâm tới sản phẩm cá tra đạt chứng nhận ASC và muốn có nguồn cung của sản phẩm này khi sản phẩm cá tra đạt chứng nhận trở nên có giá trị.

Triển vọng của cá tra trên thị trường trong tương lai

·         Trong ngắn và dài hạn, cá tra có thể được “chào đón” ở phân khúc bán lẻ, nhưng sẽ rất khó có kết quả cụ thể trong phân khúc dịch vụ thực phẩm.

Dự báo tác động của việc tăng giá cá tra đạt chứng nhận đối với nhu cầu trên thị trường

·         Rất khó để dự báo các tác động về giá đối với nhu cầu. Phân khúc dịch vụ thực phẩm khác với phân khúc bán lẻ, việc tăng giá không dễ được chấp nhận do phải định giá trên các thực đơn. Để giải quyết việc tăng giá, phân khúc dịch vụ thực phẩm có thể điều chỉnh tỷ trọng cá trong thực đơn. Điều này có nghĩa là nhu cầu sẽ thấp hơn.

Dự báo mức tăng giá cá tra đạt chứng nhận

·         Trong thời gian ngắn và dài hạn, việc tăng thêm giá cá tra đạt chứng nhận ASC trong phân khúc dịch vụ thực phẩm cũng sẽ được chờ đợi tương tự như trong phân khúc bán lẻ.

3.4. Italy

Thông tin cơ bản

Tại Italy ước tính có khoảng 60% khối lượng cá tra được bán trong phân khúc dịch vụ thực phẩm, và 40% khối lượng còn lại được bán trong phân khúc bán lẻ. Cá tra là loài có giá trị thấp nhất trong cả phân khúc tươi và đông lạnh. Tại Hà Lan và Đức cá minh thái Alaska và cá tuyết lục (Saithe) là 2 loài cá cạnh tranh chủ yếu trong phân khúc bán lẻ, trong khi tại Italy cá vược trắng (Nile Perch), cá tuyết (Hake) và cá bơn (Plaice) cạnh tranh với cá tra.

Bảng 8: Giá bán lẻ cá tra và các loài cá thịt trắng khác (Tháng 1/2013)

Sản phẩm

Tươi (phile, euro/kg)

Đông lạnh (phile, euro/kg)

Cá tra

7,90

4,20 – 5,00

Cá vược trắng

10,90

 

Cá tuyết (hake)

10,96

 

Cá tuyết (cod)

11,90

9,48 – 11,48

Cá bơn

9,98 – 12,90

18,40 – 22,25

Phân khúc bán lẻ

Vị trí hiện tại của cá tra trong phân khúc bán lẻ trên thị trường

·         Không có một chiến lược kinh doanh cụ thể nào cho sản phẩm cá tra. Cá tra không thực sự hấp dẫn đối với phân khúc thị trường bán lẻ do nhận thức tiêu cực vì các chiến dịch truyền thông và lợi nhuận của sản phẩm thấp.

·         Các sản phẩm cạnh tranh nhất trên thị trường này không phải là cá tra mà là philê cá tuyết (Cod), cá bơn (Plaice), cá tuyết chấm đen, cá vược trắng. Các sản phẩm này được ưa chuộng hơn không những vì chất lượng tốt hơn và đảm bảo an toàn thực phẩm hơn mà còn bởi đây là những sản phẩm truyền thống trong thói quen ăn uống của người tiêu dùng Italy.

·         Các chứng nhận bền vững được đưa vào phân khúc bán lẻ Italy như MSC và FOS. Nhận thức về chứng nhận ASC của các Giám đốc mua hàng vẫn còn hạn chế.  Người tiêu dùng Italy mua hàng chủ yếu dựa trên sự tin tưởng và tín nhiệm của nhà bán lẻ.

Triển vọng của cá tra trên thị trường trong tương lai

·         Trong ngắn và dài hạn sẽ khó có tăng trưởng đột biến đối với thị phần cá tra trên thị trường trong phân khúc bán lẻ Italy do nhận thức tiêu cực về sản phẩm cá tra. Khối lượng dự kiến sẽ vẫn duy trì ở mức thấp nhưng không thay đổi. Khối lượng tăng còn tùy thuộc việc hoặc tăng giá cao cạnh tranh với cá thịt trắng hoặc giảm mạnh sức mua của người tiêu dùng Italy.

·         Việc tăng thị phần cá tra đạt chứng nhận ASC trên thị trường còn phụ thuộc vào truyền thông cho chứng nhận ASC và người tiêu dùng có sẵn sàng trả một mức giá cao hơn cho sản phẩm này.

Dự báo tác động của việc tăng giá cá tra đạt chứng nhận đối với nhu cầu trên thị trường

·         Hiện nay, các nhà bán lẻ Italy không đầu tư vào chứng nhận cá tra bền vững vì khối lượng bán thấp, lợi nhuận thấp và người tiêu dùng cũng chưa sẵn sàng để trả mức giá cao hơn.

·         Không có lý do gì để tăng giá cá tra vì người tiêu dùng cho rằng sản xuất bền vững là điều hiển nhiên, vì vậy họ không cần phải trả thêm tiền cho sản phẩm cá tra đạt chứng nhận ASC. Chính vì vậy, tăng thêm giá cá tra đạt chứng nhận ASC sẽ có ảnh hưởng tiêu cực vì người tiêu dùng sẽ chuyển sang tiêu thụ sản phẩm thay thế có giá rẻ hơn.

Dự báo mức tăng giá cá tra đạt chứng nhận

·         Trong thời gian ngắn hạn việc tăng thêm giá cho cá tra đạt chứng nhận ASC là rất khó. Trong dài hạn chứng nhận bền vững có thể có kể quả nếu bắt buộc phải có chứng nhận bền vững cho cá tra. Hiện vẫn chưa có dấu hiệu cụ thể về việc tăng thêm giá cho sản phẩm cá tra đạt chứng nhận ASC trong thời gian dài hạn.

Phân khúc dịch vụ thực phẩm

Vị trí hiện nay của cá tra trong phân khúc dịch vụ thực phẩm trên thị trường

·         Trong phân khúc dịch vụ thực phẩm cá tra được chào bán gần như dành riêng cho chuỗi hệ thống dịch vụ thực phẩm thương mại. Một số cửa hàng lớn không bán cá tra cho tới khi chất lượng sản phẩm đảm bảo. Trong chuỗi hệ thống dịch vụ thực phẩm công khối lượng cá tra giảm mạnh do các chiến dịch truyền thông tiêu cực.

·         Cá tra không phải là sản phẩm được quan tâm nhiều trong các mặt hàng thủy sản của các tập đoàn dịch vụ thực phẩm lớn.

·         So với chuỗi hệ thống cung cấp thực phẩm thương mại, chứng nhận bền vững quan trọng hơn trong chuỗi hệ thống cung cấp thực phẩm công. Các chương trình chứng nhận như MSC và FOS đã được đưa vào chuỗi hệ thống cung cấp thực phẩm công và một số nhà cung cấp thực phẩm đã bán cá tra đạt chứng nhận Global GAP.

Triển vọng của cá tra trên thị trường trong tương lai

·         Trong ngắn hạn nhu cầu cá tra có thể sẽ tăng trong chuỗi hệ thống cung cấp thực phẩm thương mại vì giá của sản phẩm này thấp. Để tăng nhu cầu cá tra trong chuỗi hệ thống dịch vụ thực phẩm công thì trước tiên cần phải truyền thông cũng như thông tin đầy đủ và đúng đắn về sản phẩm này. Và cũng cần phải truyền thông nếu sản phẩm này được bán với nhãn chứng nhận bền vững.

·         Thị trường Italy cũng rất nhạy bén với các vấn đề liên quan đến môi trường, vì vậy trong dài hạn vấn đề môi trường dự kiến sẽ được quan tâm nhiều hơn. Đây cũng là cơ hội cho chứng nhận bền vững cũng như một cách tiếp cận nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm cho các sản phẩm thủy sản. Điều này không chỉ có lợi cho sản phẩm cá tra mà còn là điều kiện để thay đổi nhận thức tiêu cực về sản phẩm.

Dự báo ảnh hưởng của việc tăng giá cá tra đạt chứng nhận đối với nhu cầu trên thị trường

·         Giá tăng dự kiến sẽ có ảnh hưởng tiêu cực tới nhu cầu tiêu thụ cá tra trong phân khúc dịch vụ thực phẩm Italy, chủ yếu do tình hình tài chính. Đối với chuỗi hệ thống dịch vụ thực phẩm công giá sẽ tăng dưới 10% mà không ảnh hưởng nhiều tới nhu cầu cá tra đạt chứng nhận. Việc tăng giá cao hơn sẽ làm giảm nhu cầu do hạn chề về tài chính của chính quyền địa phương, nơi quản lý trường học và bệnh viên.

Dự báo mức tăng giá cá tra đạt chứng nhận

·         Chuỗi hệ thống cung cấp thực phẩm công cho biết họ sẵn sàng trả thêm tiền cho cá tra đạt chứng nhận ASC nếu giá tăng thêm dưới 10% so với cá tra không có chứng nhận. Trong thời gian ngắn và dài hạn sẽ không có bất cứ kỳ vọng nào về việc tăng thêm giá cho cá tra đạt chứng nhận ASC.

3.5. Tây Ban Nha

Thông tin cơ bản

Tại Tây Ban Nha khoảng 2/3 khối lượng cá tra được bán ở phân khúc bán lẻ. Và 1/3 khối lượng còn lại được bán ở phân khúc dịch vụ thực phẩm. Cá tra là sản phẩm có giá trị thấp nhất trong phân khúc tươi trong khi phân khúc đông lạnh cá minh thái Alaska được bán với giá thấp hơn cá tra. Ngoài ra, cá tuyết (cod) và cá tuyết (hake), nhiều loài cá thịt trắng NK và khai thác nội địa và các loài cá khác được bán ở hệ thống bán lẻ tại Tây Ban Nha.

Bảng 9: Giá bán lẻ cá tra và các loài cá thịt trắng khác (Tháng 11/2012)

Sản phẩm

Tươi (Phile, euro/kg)

Đông lạnh (phile, euro/kg)

Cá tra

5,75 – 5,99

4,10 – 6,56

Cá minh thái Alaska

-

3,81 – 7,75

Cá tuyết chấm đen

5,89 – 14,25

5,91 – 6,00

Cá tuyết

8,99

8,74 – 10,40

Phân khúc bán lẻ

Vị trí hiện tại của cá tra trong phân khúc bán lẻ trên thị trường

·         Cá tra trên thị trường bán lẻ có vị trí thấp nhất, thường sử dụng cho các chào bán quảng cáo. Cá tra có lợi nhuận thấp và yêu cầu khối lượng lớn nhằm tạo thêm lợi nhuận.

·         Do Tây Ban Nha có truyền thống ăn cá từ lâu đời và người tiêu dùng thích ăn các sản phẩm thủy sản khai thác, nên các Giám đốc mua hàng thường chọn mua thủy sản khai thác. Vì vậy, để xác định lại vị trí cá tra như một sản phẩm có giá trị cao hơn còn hạn chế.

·         Trong phân khúc đông lạnh, sản phẩm cạnh tranh chính là cá minh thái Alaska thỉnh thoảng vẫn có vị trí thấp hơn cá tra (cá minh thái Alaska đông lạnh có giá 3,81 euro/kg phile giảm so với giá 4,10 euro/kg phile cá tra đông lạnh)

Triển vọng của cá tra trên thị trường trong tương lai

·         Trong thời gian ngắn hạn cá tra vẫn sẽ duy trì vị trí của nó trên thị trường bán lẻ. Do kinh tế suy thoái nên nhu cầu đối với cá tra (và các loài cá thị trắng giá rẻ khác như cá minh thái Alaska, cá tuyết (hake) và cá tuyết lam (blue whiting) dự kiến sẽ tăng. Tuy nhiên, sẽ có sự cạnh tranh về giá giữa thủy sản và các sản phẩm giàu protein như thịt gia cầm.

·         Chứng nhận bền vững vẫn còn quá mới mẻ tại Tây Ban Nha. Trong thời gian ngắn hạn chứng nhận bền vững sẽ chỉ giành cho một số sản phẩm thủy sản giá trị gia tăng cao. Các giám đốc mua hàng rất hạn chế trong việc hiểu biết về các chương trình chứng nhận như Global GAP, MSC và FOS và một số Giám đốc mua hàng vẫn còn xa lạ với nhãn ASC.

·         Trong thời gian dài hạn tiêu thụ cá tra đạt chứng nhận còn phụ thuộc vào phát triển kinh tế của Tây Ban Nha. Các nhà NK sẽ không ngăn cản các sản phẩm đạt chứng nhận vào thị trường bán lẻ Tây Ban Nha. Nhưng họ cũng sẽ không khuyến khích cá tra đạt chứng nhận ASC.

Dự báo ảnh hưởng của việc tăng giá cá tra đạt chứng nhận bền vững đối với nhu cầu trên thị trường

·         Các nhà bán lẻ Tây Ban Nha chỉ chấp nhận cá tra đạt chứng nhận với giá bằng với giá cá tra thông thường. Việc tăng giá cá tra vì chứng nhận bền vững sẽ ảnh hưởng lớn tới khối lượng tiêu thụ sản phẩm này.  

Dự báo mức tăng giá cá tra đạt chứng nhận

·         Kinh tế Tây Ban Nha hiện vẫn trong tình trạng suy thoái nên các nhà NK và phân phối sẽ không trả giá cao hơn cho cá tra đạt chứng nhận. Và điều này khó có thể thay đối trong dài hạn.

Phân khúc dịch vụ thực phẩm

Vị trí hiện nay của cá tra trong phân khúc dịch vụ thực phẩm trên thị trường

·         70% khối lượng cá tra trong phân khúc dịch vụ thực phẩm được tiêu thụ trong chuỗi hệ thống dịch vụ thực phẩm thương mại và 30% còn lại tiêu thụ trong chuỗi hệ thống dịch vụ thực phẩm công. Chuỗi các nhà hàng lớn nhất không tiêu thụ cá tra. Kinh doanh cá tra phile trong chuỗi hệ thống dịch vụ thực phẩm công chủ yếu tập trung vào các cửa hàng cung cấp thực phẩm hợp đồng lớn.

·         Trong những năm gần đây có một vài chiến dịch bôi xấu hình ảnh cá tra trong phân khúc dịch vụ thực phẩm. Trên thực tế đã có một số tập đoàn cung cấp thực phẩm dừng bán cá tra.

·         Philê cá minh thái Alaska đông lạnh - sản phẩm cạnh tranh với cá tra - được tiêu thụ rộng rãi trong chuỗi hệ thống dịch vụ thực phẩm công cũng như trong các nhà hàng phục vụ ăn nhanh. Chênh lệch giá cá minh thái Alaska và cá tra không lớn.  

·         Chứng nhận bền vững không phải là yêu cầu cho các cửa hàng hợp đồng hoặc các khách hàng của họ, cũng như trong chuỗi hệ thống dịch vụ thực phẩm thương mại. McDonald là một trường hợp ngoại lệ tiêu thụ phile cá minh thái Alaska đạt chứng nhận MSC.

Triển vọng của cá tra trên thị trường trong tương lai

·         Trong ngắn hạn, kinh tế khó có thể phục hồi nhanh nên phân khúc dịch vụ thực phẩm chủ yếu sẽ giảm giá. Điều này sẽ có lợi cho các loài cá thịt trắng giá trị thấp như cá tra.

·         Chuỗi hệ thống dịch vụ thực phẩm thương mại sẽ tiếp tục tiêu thụ philê cá tra. Tuy nhiên, có một số trường hợp cố tình nhầm bán cá tra như cá tuyết (cod) hoặc cá bơn (sole) do hình ảnh cá tra không được đẹp trong mắt người tiêu dùng trong khi cá tuyết (cod) và cá bơn (sole) lại có giá trị cao hơn trên thị trường.

·         Trong chuỗi hệ thống dịch vụ thực phẩm công, đặc biệt trong phân khúc dễ bị tổn thương như trường học thì cá tra sẽ khó có thể phát triển trong tương lai vì sản phẩm này tiếp tục phải chịu các chiến dịch bôi bẩn. Và sẽ rất khó để trả lại hình ảnh đẹp đối với cá tra trên thị trường này.

Dự báo mức tăng giá cá tra đạt chứng nhận

·         Trong ngắn hạn cũng như dài hạn, việc tăng thêm giá cho sản phẩm cá tra đạt chứng nhận là rất khó. Người tiêu dùng chưa sẵn sàng trả thêm tiền cho sản phẩm này, và nếu người tiêu dùng phải trả thêm tiền cho sản phẩm cá tra thì mức tiêu thụ trong chuỗi hệ thống dịch vụ thực phẩm công sẽ sụt giảm.

3.6. Ba Lan

Thông tin cơ bản

Tại Ba Lan ước tính có khoảng 50 - 70% khối lượng cá tra được bán trong phân khúc bán lẻ. Và 30-50% được tiêu thụ trong phân khúc dịch vụ thực phẩm. Tại Ba Lan, philê cá thịt trắng có giá thấp hơn các nước khác bao gồm cả các nước trong báo cáo này. Cá tra và cá minh thái Alaska có giá trị thấp nhất trong phân khúc đông lạnh, với giá dưới 2,50 euro/kg đối với cá minh thái Alaska. Một số loài cá thịt trắng khác như rô phi, cá tuyết (cod) và cá tuyết lục được bán trong phân khúc bán lẻ.

Bảng 10: Giá bán lẻ cá tra và các loài cá thịt trắng khác (Tháng 1/2013)

Sản phẩm

Tươi (phile, euro/kg)

Đông lạnh (phile, euro/kg)

Cá tra

-

2,88

Cá minh thái Alaska

-

2,40 – 2,88

Cá rô phi

-

3,59 – 4,31

Cá tuyết (cod)

-

4,31

Cá tuyết lục

-

4,07 – 6,23

Phân khúc bán lẻ và dịch vụ thực phẩm

Vị trí hiện tại của cá tra trên thị trường

·         Thị trường thủy sản Ba Lan rất quan tâm tới giá cả sản phẩm. Mặc dù điều này có lợi cho cá tra nhưng các nhà NK Ba Lan cho rằng hình ảnh cá tra trên thị trường Ba Lan không được tốt đẹp.

·         Philê cá tra thịt hồng nhạt được ưa chuộng nguyên nhân là do giá của sản phẩm này thấp hơn philê cá tra thịt trắng. Sản phẩm cạnh tranh chính với cá tra trên thị trường này chính là cá minh thái Alaska.

·         Hiện nay vẫn chưa có chiến lược quảng bá cho sản phẩm cá tra. Các nhà NK cũng mong muốn đưa ra các thay đổi tích cực cho sản phẩm cá tra. Từng nhà NK thì không thể kiểm soát chiến dịch tăng giá này.  

·         Do hình ảnh cá tra ngày càng xấu hơn nên một số siêu thị đã yêu cầu mạ băng 8% cho sản phẩm thay vì 20%, nhưng rốt cuộc họ cũng không trả thêm tiền.

·         Thị trường Ba Lan không quan tâm tới chứng nhận bền vững cho cá tra. Nhà bán lẻ không có chủ trương phát triển chứng nhận bền vững. Chứng nhận Global GAP và ASC không phải là chương trình hành động dành cho cá tra.

Triển vọng của cá tra trong tương lai

·         Cả trong ngắn và dài hạn, vị trí của cá tra trên thị trường sẽ vẫn phụ thuộc vào giá. Hơn nữa để tăng khối lượng thì việc cải thiện và phát triển hình ảnh cá tra là rất cần thiết.

Dự báo tác động của việc tăng thêm giá cho cá tra đạt chứng nhận

·         Đối với một sản phẩm có hình ảnh tiêu cực trên thị trường nhạy cảm về giá, thì việc tăng giá sẽ ảnh hưởng không tốt tới nhu cầu tiêu thụ sản phẩm. Dù sản phẩm được chứng nhận hay không chứng nhận thì cũng sẽ không ảnh hưởng đến giá.

Dự báo mức tăng giá cá tra đạt chứng nhận

·         Khó có thể đưa ra giá tăng thêm cho sản phẩm cá tra đạt chứng nhận. Tuy nhiên, dựa trên tình trạng của cá tra trên thị trường hiện nay thì khó có hy vọng tăng giá cá tra trong thời gian ngắn và dài hạn.

4. Kết luận
Các tập đoàn cung cấp thực phẩm và các nhà bán lẻ có ảnh hưởng như thế nào đối với vị trí của cá tra
Cá tra là loài cá thịt trắng có giá trị thấp nhất trong phân khúc bán lẻ và phân khúc dịch vụ thực phẩm. Tại Hà Lan, cá minh thái Alaska đôi khi được chào bán với giá tương đương hoặc thấp hơn giá cá tra. Trong phân khúc bán lẻ, cá tra chủ yếu được bán dưới dạng philê tươi và đông lạnh và thường sử dụng cho các quảng cáo và chào hàng đặc biệt. Trong phân khúc tươi, cá tra dạng tươi cạnh tranh với một số loài cá NK và địa phương, trong khi ở phân khúc đông lạnh, cá minh thái Alaska là sản phẩm cạnh tranh chính với cá tra. Trong phân khúc dịch vụ thực phẩm, philê cá tra được tiêu thụ như là một món ăn có giá thấp và chủ yếu cạnh tranh với cá minh thái Alaska.
Nhằm đối chọi với các sản phẩm cá khai thác, hiện nay có một số ít các sản phẩm cá nuôi đạt chứng nhận: từ nhà kinh doanh đến người tiêu dùng (B2C). Một số ít sản phẩm cá tra đạt chứng nhận ASC tại Hà Lan và Đức cũng như một số nhỏ cá tra đạt chứng nhận FOS tại Italy hiện được bán với nhãn B2C.
Triển vọng ngắn hạn (dưới 3 năm) và dài hạn (3-5 năm) theo quan điểm mua hàng đối với cá thịt trắng trong phân khúc bán lẻ và phân khúc dịch vụ thực phẩ, tập trung vào cá tra có và không có nhãn mác chứng nhận
Một số diễn biến chính sau đây sẽ xác định vị trí của cá tra trên thị trường trong tương lai: Nguồn cung cá thịt trắng tăng; tỷ giá giữa đồng EURO/USD; chi phí sản xuất của cá tra; tình trạng kinh tế EU; và nhận thức của người tiêu dùng đối với cá tra.
Các Giám đốc mua hàng tranh luận rằng vị trí của cá tra trên thị trường trong thời gian ngắn hạn có thể vẫn được duy trì ổn định hoặc có thể tăng nhẹ. Nguyên nhân là do suy thoái kinh tế hiện nay sẽ khiến người tiêu dùng chuyển sang tiêu thụ cá thịt trắng có giá trị thấp hơn. Điều này có ảnh hưởng hay không còn phụ thuộc vào khả năng của các nhà sản xuất cá tra có duy trì được chi phí sản xuất ở mức kiểm soát được hay không. Nếu chi phí sản xuất tăng thì cá tra sẽ khó có thể cạnh tranh được với các loài cá thịt trắng khác.
Mặc dù dự báo thị trường cá tra ổn định hoặc tăng nhẹ, nhưng khối lượng NK philê cá tra đông lạnh vào EU trong 6 tháng đầu năm 2012 vẫn giảm đáng kể (26%) so với cùng kỳ năm 2011. Chi phí sản xuất cao, các vấn đề về tín dụng và liên tiếp có các hình ảnh bôi xấu cá tra tại EU đang góp phần làm sụp giảm NK cá tra vào EU. NK phần lớn các loài cá thịt trắng khác vào EU cũng giảm trong 6 tháng đầu năm 2012. Tuy nhiên, mức sụt giảm này không lớn. Cá minh thái Alaska và cá tuyết chấm đen (hake Northern), cùng với cá tra có mức giá NK thấp nhất. Khối lượng cá minh thái Alaska và cá tuyết (hake Northern) NK vào EU giảm lần lượt là 4% và 10%. Sự sụt giảm NK cá tra cho thấy cá minh thái Alaska – sản phẩm cạnh tranh chính với cá tra - đang dần chiếm thị phần cá tra trên thị trường, ít nhất là ở các nước có truyền thống tiêu thụ cá minh thái Alaska như Đức và Ba Lan.
Trong ngắn hạn, chứng nhận bền vững có thể thích hợp với cá tra để “thủ thế” với các loài cá thịt trắng khai thác đã đạt chứng nhận tại Hà Lan, Đức và Scandinavia và Anh. Chứng nhận bền vững có thể là một biện pháp để bảo vệ thị phần cá tra trên thị trường khi cá minh thái Alaska cũng có chứng nhận MSC.
Các Giám đốc mua hàng cho rằng rất khó để đưa ra dự báo về cá tra trong dài hạn. Tuy nhiên, trong vòng 5 năm tới thị trường cá tra sẽ khó có sự thay đổi đột biến. Dự báo cạnh tranh sẽ vẫn duy trì mạnh mẽ trong phân khúc thị trường cá thịt trắng có giá trị thấp. Các Giám đốc mua hàng dự báo cá tra vẫn tiếp tục cạnh tranh về giá vì sản phẩm cá tra không thể lấy lại vị trí như một sản phẩm có giá trị cao hơn. Tương tự như Hà Lan, một vài Giám đốc kinh doanh tại các nước ưa chuộng sản phẩm bền vững hiện ít quan tâm như Italy và Tây Ban Nha, cho rằng trong dài hạn chứng nhận bền vững sẽ góp phần cải thiện nhận thức của người tiêu dùng đối với cá tra. Điều này sẽ giúp cá tra lấy lại thị phần tại các nước mà cá tra đã phải hứng chịu các chiến dịch truyền thông bôi bẩn. Xa hơn nữa đây sẽ là một biện pháp để xác định lại vị trí cá tra như một sản phẩm có giá trị cao vì chứng nhận bền vững có thể sẽ trở thành một giấy phép hoạt động. Các chiến dịch truyền thông tích cực cho cá tra cần tác động vào nhận thúc của người tiêu dùng, đặc biệt ở các nước có nhận thức tốt về cá thịt trắng khai thác như Anh, Italy và Tây Ban Nha.
Ảnh hưởng của việc tăng giá cá tra đạt chứng nhận đối với nhu cầu trong phân khúc bán lẻ và dịch vụ thực phẩm
Người tiêu dùng cá tra sẽ có nhiều định hướng về giá hơn là định hướng về nhãn. Tại Hà Lan và Đức đều yêu cầu sản phẩm cá tra đạt chứng nhận ASC. Tuy nhiên, trên thực tế, đòi hỏi này xuất phát từ các nhà bán lẻ hơn là người tiêu dùng. Tiếp đến là Anh vì ASC có tiềm năng để trở thành quy định khi xâm nhập vào thị trường này. Do người tiêu dùng không mặn mà với chứng nhận ASC cũng như tình trạng thờ ơ của thị trường hiện nay nên việc tăng giá cá tra sẽ có ảnh hưởng tiêu cực tới vị trí cạnh tranh của cá tra cũng như nhu cầu tiêu thụ tại các nước. Khi giá cá tra tăng, người tiêu dùng sẽ chuyển sang tiêu thụ các loài cá thịt trắng cạnh tranh khác hoặc thay thế bằng các sản phẩm thịt gia cầm giàu protein. Kể cả không có chứng nhận thì việc tăng giá cá tra cũng ảnh hưởng lớn tới nhu cầu. Chứng nhận bền vững có thể trở thành “đối trọng” của cá tra đối với các loài cá thịt trắng khác, vì phần lớn các loài thịt trắng này đã có chứng nhận MSC.
Dự báo mức tăng giá cá tra có chứng nhận trong ngắn hạn (dưới 3 năm) và dài hạn (3-5 năm)
Giá cá tra đạt chứng nhận ASC có thể tăng thêm nếu nhu cầu tăng mạnh so với nguồn cung. Điều này đặc biệt đúng tại thị trường Hà Lan, tại đây các tập đoàn bán lẻ lớn cùng cam kết sẽ cung cấp các sản phẩm cá tra đạt chứng nhận bền vững cho người tiêu dùng. Hoạt động này cũng tiếp diễn tại thị trường Đức. Tại Anh, chỉ có từng nhà bán lẻ cũng như từng tập đoàn cung cấp thực phẩm cam kết nên sẽ khó để đạt mức giá cao cho cá tra chứng nhận bền vững. Mức giá cao còn phục thuộc vào túi tiền của người tiêu dùng. Nếu có đủ khối lượng cá tra đạt chứng nhận ASC trên thị trường và chứng nhận ASC trở thành quy định khi xâm nhập vào thị trường cho nhà NK và các tập đoàn cung cấp thực phẩm tại Hà Lan và Đức thì giá cá tra đạt chứng nhận ASC khó có thể cao hơn. Trong dài hạn để bán cá tra với một mức giá cao hơn còn phụ thuộc vào tình hình tài chính kinh tế. Mức giá cao cho cá tra đạt chứng nhận ASC sẽ giới hạn chỉ trong một số thị trường, nơi cá tra đạt chứng nhận ASC trở thành một giấy phép hoạt động. Các tập đoàn cung cấp thực phẩm và nhà bán lẻ tại Nam Âu không cam kết cung cấp cá tra đạt chứng nhận ASC vì vậy, họ cũng không sẵn sàng để trả một giá cao hơn cho sản phẩm này.
Phụ lục 1: Chuỗi cung cấp cá tra
Phụ lục 1 cung cấp chỉ số về chuỗi cung ứng cá tra, ước tính về giá trung bình cá tra fillet tại thị trường Tây Ban Nha 

Chi phí

 
USD/Euro/kg
Giá tại ao nuôi (Việt Nam)
2,20 USD/kg
Chi phí vận chuyển (reefer)
0,12
Chi phí
0,03
Thuế hải quan (5,5%)
0,12
Tỷ giá hối đoái (USD/euro)
1,30
Giá tịnh (euro)
1,90
Vận chuyển đến kho hàng trung tâm
0,02
Làm lạnh tại kho hàng trung tâm
0,02
Từ containơ đến kệ hàng
0,04
Tổng lợi nhuận nhà NK (5-10%
0,15
Giá bán cho nhà phân phối (phân phối tại kho hàng trung tâm)
2,13
Phân phối cửa hàng
0,12
Chi phí tài chính: dự trữ, cửa hàng, cửa hàng thương mại
0,35
Giá mua thực cho các nhà phân phối
2,60
Lợi nhuận gộp của nhà phân phối 40%
1,04
Giá bán lẻ (gồm VAT)
3,64
(VAT (10%)
0,36
Giá bán lẻ gồm VAT
4,00

 

Phụ lục 2: Xu hướng giá philê cá thịt trắng đông lạnh NK
Trong năm 208 – 2009, giá NK các loài cá thịt trắng đều sụt giảm. Trừ cá tuyết (Hake Northern), giá của tất cả các loài cá thịt trắng chủ lực đều tăng trong năm 2009 đến 6 tháng năm 2012.
 
 
Phụ lục 3: NK philê cá thịt trắng đông lạnh vào EU (tấn)
Phụ lục 3 cung cấp dữ liệu về NK cá tra phile đông lạnh và phile các loại cá thịt trắng khác vào thị trường EU và 6 nước thành viên.

Sản phẩm

 
Khối lượng NK vào EU năm 2011
So sánh khối lượng NK năm 2011 – 2012 (từ tháng 1 – tháng 6)
Cá tra
205.417
-26%
Cá rô phi
20.711
-20%
Cá tuyết Thái Bình Dương (Pacific Cod)
28.414
-7%
Cá tuyết Đại Tây Dương (Atlantic cod)
177.791
1%
Cá tuyết lục (Saithe)
62.932
-19%
Cá tuyết chấm đen (Haddock)
45.221
5%
Cá tuyết chấm đen Nam Phi (Cape Hake)
61.460
13%
Cá tuyết chấm đen Argentina (Argentinial Hake)
46.886
-21%
Cá tuyết chấm đen (Northern hake)
27.340
-10%
Cá minh thái Alaska
323.635
-4%

 

 

Khối lượng NK vào Hà Lan (tấn)

 
Sản phẩm
Khối lượng NK vào EU năm 2011
% tổng khối lượng NK vào EU
So sánh khối lượng NK năm 2011 – 2012 (từ tháng 1 – tháng 6)
Cá tra
27.270
13%
-25%
Cá rô phi
2.275
11%
-27%
Cá tuyết Thái Bình Dương (Pacific Cod)
1.704
6%
-58%
Cá tuyết Đại Tây Dương (Atlantic cod)
20.026
11%
11%
Cá tuyết lục (Saithe)
9.363
15%
-16%
Cá tuyết chấm đen (Haddock)
3.444
8%
2%
Cá tuyết chấm đen Nam Phi (Cape Hake)
4.186
7%
28%
Cá tuyết chấm đen Argentina (Argentinial Hake)
146
0%
-79%
Cá tuyết chấm đen (Northern hake)
481
2%
47%
Cá minh thái Alaska
17.334
5%
11%

 

 

Khối lượng nhập khẩu của Anh (tấn)

 
 
KL 2011
Tỷ trọng trong EU (%)
Tăng,giảm 2011 so với 2011 (%)
Cá tra
9.371
5
-15
Cá rô phi
665
3
-8
Cá tuyết cod Thái Bình Dương
7,222
25
-3
Cá tuyết cod Đại Tây Dương
66.416
37
7
Cá tuyết lục
1.935
3
-48
Cá haddock
31.749
70
2
Cá hake Cape
1.322
2
-11
Cá hake Argentina
2
0
13100
Cá hake phương Bắc
490
2
55
Cá minh thái Alaska
24.041
7
2

 

 
 

Khối lượng nhập khẩu của Đức (tấn)

 
 
KL 2011
Tỷ trọng trong EU (%)
Tăng,giảm 2011 so với 2011 (%)
Cá tra
32.584
16
-40
Cá rô phi
3.017
15
-35
Cá tuyết cod Thái Bình Dương
7.373
26
-26
Cá tuyết cod Đại Tây Dương
18.480
10
-7
Cá tuyết lục
15.703
25
-30
Cá haddock
4.164
9
-32
Cá hake Cape
3.491
6
-20
Cá hake Argentina
1.941
4
-44
Cá hake phương Bắc
8.293
30
-32
Cá minh thái Alaska
155.027
48
-8

 

 
 

Khối lượng nhập khẩu của Italy (tấn)

 
 
KL 2011
Tỷ trọng trong EU (%)
Tăng,giảm 2011 so với 2011 (%)
Cá tra
14.125
7
-7
Cá rô phi
1.189
6
-37
Cá tuyết cod Thái Bình Dương
921
3
-17
Cá tuyết cod Đại Tây Dương
3.941
2
-10
Cá tuyết lục
371
1
-86
Cá haddock
23
0
-55
Cá hake Cape
9.284
15
22
Cá hake Argentina
16.460
35
-35
Cá hake phương Bắc
5.971
22
-15
Cá minh thái Alaska
2.986
1
-38

 

 

Khối lượng nhập khẩu của Tây Ban Nha (tấn)

 
 
KL 2011
Tỷ trọng trong EU (%)
Tăng,giảm 2011 so với 2011 (%)
Cá tra
44.757
22
-21
Cá rô phi
4.602
22
-18
Cá tuyết cod Thái Bình Dương
1.450
5
-81
Cá tuyết cod Đại Tây Dương
23.690
13
-14
Cá tuyết lục
4.625
7
-22
Cá haddock
39
0
286